MỞ ĐẦU * Lý do thực tập Thực tập tốt nghiệp là cơ hội trải nghiệm tuyệt vời giúp sinh viên làm quen môi trường thực tế, vận dụng và hoàn thiện kiến thức, trau dồi các kỹ năng, nghiệp vụ…và chuẩn bị sẵn sàng để bắt đầu công việc trong tương lai Vì vậy, trường ĐH Công Nghiệp Tp.HCM đã phối hợp với doanh nghiệp tạo điều kiện tốt nhất cho các sinh viên hoàn thành học phần quan trọng này. Mục tiêu - Hoàn thành “Báo cáo thực tập doanh nghiệp” – một môn học bắt buộc theo hệ thống đào tạo tín chỉ của trường. - Tiếp cận công việc của nhân viên trung tâm Tài nguyên đất và môi trường - Tìm hiểu, nghiên cứu môi trường phục vụ phát triển nông nghiệp - Điều tra xây dựng bản đồ, đánh giá đất - Ứng dụng phần mềm chuyên dụng (GIS, MapInfo) để xử lý số liệu tính toán các thông số quy hoạch, phương án phát triển nông nghiệp. - Tiếp cận công việc vẽ và in bản đồ màu ở nhiều tỷ lệ khác nhau (1:500, 1:50.
Nội dung thực tập - Hoàn thành báo cáo thực tập tại doanh nghiệp - Vận dụng các phần mềm để xây dựng bản đồ đất, thiết kế quy hoạch sử dụng đất của các cấp - Xây dựng các phương án quy hoạch vùng chuyên canh, kinh tế mới (cà phê ở Tây Nguyên, lúa ở Đông Nam Bộ) 3. Đối tượng nghiên cứu - Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp 4. Kết quả cần đạt được - Áp dụng kiến thức đã được học tại trường để ứng dụng vào các công việc tại đơn vị thực tập 10 0 0 Tieu luan - Nắm vững các phần mềm chuyên dụng trong việc xây dựng bản đồ và đánh giá chất lượng đất - Tiếp thu các kinh nghiệm trong các lĩnh vực lập kế hoạch quy hoạch sử dụng đất, điều tra đánh giá tài nguyên đất đai,… từ các anh chị có kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực quản lý đất đai 5. Bố cục bài thực tập Bố cục báo cáo gồm 3 phần: Phần I: Tổng quan về Phân viện Quy hoạch & Thiết kế Nông nghiệp Miền Nam Phần II: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Phần III: Bài học kinh nghiệm 11 0 0 Tieu luan PHẦN 2: GIỚI THIỆU ĐƠN VỊ THỰC TẬP 1.
Giới thiệu tổng quan Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (Sub – NIAPP) là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp được thành lập theo Quyết định số 59-TCCB/QĐ ngày 23/3/1979 của Bộ Nông Nghiệp, nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn. Phân viện có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Trụ sở: Số 20 Võ Thị Sáu, phường Tân Định, quận 1, TP. Hồ Chí Minh.
Lĩnh vực hoạt động (1) Nghiên cứu và tham gia các chương trình, dự án dài hạn, trung hạn, hàng năm về phân vùng quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, phát triển nông thôn và tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. (2) Nghiên cứu đề tài khoa học, tham gia xây dựng nội dung, phương pháp quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, tham gia xây dựng các quy trình, quy phạm, định mức, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thuộc phạm vi lĩnh vực được giao. (3) Điều tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa hình, bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất và đánh giá đất nông nghiệp. (4) Điều tra cơ bản và quy hoạch về các lĩnh vực phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, gồm: - Tình hình sử dụng đất nông nghiệp.
- Sắp xếp ổn định dân cư, tái định cư, ngành nghề và làng nghề nông thôn. - Kinh tế nông thôn, tình hình đầu tư cho phát triển sản xuất và tiêu dùng trong nông nghiệp, nông thôn; Chi phí sản xuất, chế biến nông sản và giá nông sản; Tình trạng dự trữ sản phẩm nông nghiệp; Các mô hình sản xuất, kinh tế nông hộ và kinh tế trang trại. 12 0 0 Tieu luan - Lập quy hoạch xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. - Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp, nông thôn và quy hoạch phát triển nông thôn mới; Thiết kế các công trình hạ tầng nông nghiệp nông thôn; Quy hoạch các ngành hàng, lĩnh vực và sản phẩm chủ lực trong nông nghiệp.
- Tư vấn về phân vùng, quy hoạch, khảo sát, thiết kế, thẩm định dự án trong lĩnh vực quy hoạch, thiết kế nông nghiệp, nông thôn; Đánh giá tác động môi trường; Lập báo cáo giám sát môi trường các dự án nông nghiệp, nông thôn; Phân tích đất, nước theo quy định. - Tư vấn và lập quy hoạch vùng, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định của pháp luật. (5) Hợp tác liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước về lĩnh vực quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn. (6) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các cấp.
(7) Quy hoạch sử dụng đất các cấp theo quy định của pháp luật. (8) Tham gia nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc đề xuất các chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn; Tham gia đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về các lĩnh vực chuyên môn theo chức năng, nhiệm vụ được giao. (9) Quản lý kinh phí, tài sản và các nguồn lực khác được giao theo quy định. (10) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Viện trưởng giao.
Phạm vi hoạt động Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã sát cánh cùng các tỉnh và các viện chuyên ngành khác tích cực tham gia nhiều chương trình, nhiều hoạt động trong các lĩnh vực điều tra cơ bản, phân vùng quy hoạch nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai, sọan thảo và thiết kế các dự án đầu tư, nghiên cứu khoa học. ở địa bàn các tỉnh phía Nam. Cơ cấu tổ chức và bố trí nhân sự Hnh 1: Sơ đồ tổ chức Sơ đồ tổ chức của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp Lãnh đạo Phân viện: Gồm có Phân viện trưởng và các Phó Phân viện trưởng giúp việc cho Phân viện trưởng do Viện trưởng Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp bổ nhiệm, miễn nhiệm: - Phân viện trưởng điều hành hoạt động của Phân viện và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Phân viện. - Phó Phân viện trưởng và các giám đốc trung tâm giúp việc cho Phân viện trưởng, chịu trách nhiệm trước Phân viện trưởng và trước pháp luật đối với các nhiệm vụ được phân công phụ trách.
Các phòng quản lý: Do Viện trưởng Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp quyết định thành lập, gồm có: - Phòng Tổ chức – Hành chính - Phòng Kế hoạch – Tài chính Các Trung tâm chuyên môn: Do Viện trưởng Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp quyết định thành lập và bổ nhiệm, bãi nhiệm các giám đốc, gồm có: - Trung tâm Quy hoạch nông nghiệp 14 0 0 Tieu luan - Trung tâm Phát triển nông thôn - Trung tâm Kinh tế nông nghiệp và Thông tin địa lý - Trung tâm Tài nguyên đất và Môi trường - Trung tâm Phát triển Bền vững nông nghiệp, nông thôn Đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình cơ cấu tổ chức hiện tại: Mô hình tổ chức của Phân viện thuộc mô hình tổ chức kết hợp giữa trực tuyến và chức năng. Mô hình này có những thuận lợi, khó khăn sau: * Thuận lợi: + Đảm bảo nguyên tắc lãnh đạo theo chế độ 1 thủ trưởng, phát huy được vai trò của các phòng ban chức năng (Tổ chức - Hành chính, Kế hoạch – Tài chính) tham mưu cho lãnh đạo để ra quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định. Đồng thời, những người lãnh đạo ở các tuyến (giám đốc các trung tâm) chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động và được quyền quyết định những vấn đề được phân cấp thuộc đơn vị mình phụ trách và không có quyền ra quyết định trực tiếp đối với nhân viên ở tuyến khác. + Thu hút được cán bộ, nhân viên có năng lực trong nhiều lĩnh hoạt động khác nhau.
Việc phân công lao động cho phép mỗi cá nhân và mỗi đơn vị có điều kiện học hỏi, thực hiện các công việc chuyên môn, giúp cho mỗi cá nhân hay đơn vị tập trung nỗ lực sản xuất vào một loại công việc duy nhất. Từ đó, Phân viện giảm được chi phí đào tạo; người lao động nhanh chóng tích lũy được kinh nghiệm làm việc, phát huy tính chủ động, sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của các cá nhân và đơn vị. + Lãnh đạo Phân viện có thể phân công công việc một cách hợp lý cho phép mỗi trung tâm có thể đảm nhận một vị trí và nhiệm vụ khác nhau tương ứng với mỗi chức năng khác nhau thể hiện được tính thống nhất theo quy chế hoạt động của Phân viện, đảm bảo cho bộ máy đó hoạt động một cách thuận lợi và đạt tới mục tiêu quản lý hiệu quả hơn. * Hạn chế: + Do có nhiều đơn vị phân cấp theo tuyến, việc điều hành công việc giữa lãnh đạo Phân viện và các đơn vị phân cấp theo tuyến sẽ khó khăn hơn, dễ dẫn đến đơn vị nhiều việc làm, đơn vị thiếu việc làm; thu nhập của CBVC-NLĐ giữa các đơn vị cũng khác nhau sẽ ảnh hưởng đến tư tưởng CBVC-NLĐ.
15 0 0 Tieu luan + Do thủ trưởng các đơn vị theo tuyến có quyền ra những quyết định nên dễ dẫn đến việc ra quyết định chồng chéo giữa các đơn vị với nhau, sự phối hợp giữa các đơn vị không cao.