Chương 1: Lý luận chung về tập đoàn kinh tế, Báo cáo tài chính hợp nhất. Chương 2: Thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính tại tập đoàn COTEC. Chương 3: Xây dựng giải pháp lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất tại tập đoàn Cotec. CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT: 1.1 Tổng quan về tập đoàn kinh tế: Trong bối cảnh nền kinh tế đang bƣớc vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời với sự đi lên của toàn cầu hóa, môi trƣờng kinh tế ngày càng cạnh tranh vô cùng khốc liệt.
Để tồn tại và phát triển trong môi trƣờng mà lực lƣợng sản xuất lớn mạnh, thiết bị hiện đại, thì các công ty đã đặt ra một yêu cầu cần phải đẩy nhanh quá trình tích lũy vốn, mở rộng sản xuất và thị trƣờng, đồng thời tạo ra sức mạnh cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ hơn giữa các doanh nghiệp. Cụ thể gồm 2 yêu cầu sau: - Cần phải thay đổi hình thức tổ chức doanh nghiệp cho phù hợp với thị trƣờng ngày càng mở rộng về phạm vi, nâng cao chất lƣợng và chủng loại sản phẩm. - Đòi hỏi đầu tƣ cho phát triển khoa học công nghệ để nâng cao năng suất chất lƣợng sản phẩm càng tạo lợi thế trong cạnh tranh. Các doanh nghiệp lớn phải giải quyết 2 vấn đề nói trên đƣa đến sự ra đời một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh mới là Tập Đoàn Kinh Tế với lực lƣợng sản xuất mới do vận dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ.1 Định nghĩa về tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay chƣa có định nghĩa chính xác về tập đoàn kinh tế.
Theo Luật doanh nghiệp 2005 Điều 149 Luật doanh nghiệp Việt Nam có ghi: “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định hƣớng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế” Điều 147 – Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 định nghĩa nhóm công ty nhƣ sau: 2 “Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trƣờng và các dịch vụ kinh doanh khác. Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây: - Công ty mẹ - công ty con; - Tập đoàn kinh tế; - Các hình thức khác." Theo Viện nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ƣơng CIEM thì: "Khái niệm tập đoàn kinh tế đƣợc hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về tài chính và chiến lƣợc phát triển." Mặc dù có nhiều khái niệm không hoàn toàn giống nhau về tập đoàn kinh tế, tuy nhiên có thể rút ra những đặc điểm chung của tập đoàn kinh tế nhƣ sau: - Có quy mô lớn về vốn, doanh thu, lao động và các lĩnh vực hoạt động.
- Tập đoàn kinh tế không phải là doanh nghiệp, không có tƣ cách pháp nhân, trong khi các thành viên của tập đoàn đều có tƣ cách pháp nhân, hạch toán độc lập và gắn kết chủ yếu bằng quyền lợi kinh tế thông qua quan hệ tài chính - Có sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn.2 Mô hình công ty mẹ - công ty con: 1.1 Đặc điểm của mô hình công ty mẹ- công ty con: Công ty mẹ - công ty con là hình thức phổ biến của nhóm công ty, nó mang những đặc điểm nhƣ một tập đoàn kinh tế. 3 Công ty mẹ chính là công ty đầu tƣ vốn vào vốn điều lệ của một hoặc một số công ty khác thông qua đó nắm quyền kiểm soát chúng. Công ty con là công ty có phần vốn điều lệ đáng kể thuộc sở hữu của công ty mẹ. Có sự hiện diện của ngƣời đại diện sở hữu của công ty mẹ trong cơ cấu quyền lực của công ty con đảm bảo cho công ty mẹ ảnh hƣởng đến quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nhƣ chiến lƣợc phát triển của công ty con.
Do vậy bản chất pháp lý của mô hình công ty mẹ và công ty con thể hiện ở mối quan hệ sở hữu vốn điều lệ giữa chúng với nhau. Chủ thể tham gia tập đoàn hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con vẫn giữ nguyên đƣợc sự độc lập của mình về kinh tế và pháp lý. Có nghĩa là công ty mẹ và công ty con có tƣ cách pháp nhân độc lập, công ty mẹ và công ty có có mối quan hệ độc lập về tài sản và về cơ cấu tổ chức cũng nhƣ tự chịu trách nhiệm về các khỏan nợ cũng nhƣ các nghĩa vụ tài sản của mình trong phạm vi số tài sản của mình. Trong mô hình công ty mẹ vốn đƣợc hình thành theo cơ chế góp hoặc chuyển nhƣợng thông qua hợp đồng chứ không phải là các quyết định hành chính của công ty mẹ.
Quan hệ công ty mẹ - công ty con được hình thành theo phương thức sau đây: - Công ty mẹ thành lập công ty con và đầu tƣ vào đó ở mức tuyệt đối hoặc ở mức chi phối. - Hợp nhất kinh doanh theo hình thức đầu tƣ của Công ty mẹ. Đây là con đƣờng phổ biến nhất và phù hợp nhất với quy luật vận động khách quan của quá trình tích tụ và tập trung vốn. Tại các nƣớc phát triển, nó hầu nhƣ gắn kết chặt chẽ với thị trƣờng chứng khoán.
- Tách các công ty trực thuộc thành các công ty con.2 Sự hình thành mô hình công ty mẹ - con tại Việt Nam Trong bối cảnh nhà nƣớc thay đổi cơ chế quản lý từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc. Việc quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất trung gian đã trở thành rào cản đối với sự tự chủ của doanh nghiệp có xu hƣớng muốn thoát ly khỏi liên hiệp các xí nghiệp để trở thành các 4 doanh nghiệp độc lập. Trƣớc thực tế đó quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 do thủ tƣớng chính phủ ban hành về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp nhà nƣớc đã cải thiện phần nào tính chất hành chính trung gian trong quản lý sản xuất kinh doanh … sau đó, thực hiện chủ trƣơng của Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng về việc thành lập tập đoàn kinh doanh, ngày 07/03/1994 thủ tƣớng Chính Phủ đã ra quyết định số 91/TTg về thí điểm thành lập tập đoành kinh doanh. Từ đây, Việt Nam đã có những công ty lớn mạnh nhƣng chƣa thực sự là tập đoàn; tổng công ty nhà nƣớc đƣợc chia làm 2 loại: tổng công ty 90 là tổng công ty thành lập theo quyết định 90/TTg ngày 7/3/1994 (gọi tắt là tổng công ty 90, có 78 công ty) và tổng công ty 91 là tổng công ty thành lập theo quyết định 91/TTg ngày 7/3/1994 (gọi tắt là tổng công ty 91, có 17 công ty).
Các công ty này đƣợc sự đầu tƣ vốn của nhà nƣớc rất lớn nhƣng chƣa đóng đƣợc vai trò trụ cột kinh tế. Thực trạng hoạt động của tổng công ty 90 và 91 những năm sau đó đã cho thấy mô hình này chƣa thực sự đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của nền kinh tế thị trƣờng mặc dù xét ở một số khía cạnh chúng đã mang lại những tác dụng nhất định với nền kinh tế đang thiếu những doanh nghiệp tầm cỡ để thực hiện cạnh tranh đối với công ty đa quốc gia hay chi nhánh của chúng đang tồn tại ở Việt Nam lúc bấy giờ. Các tổng công ty này về cơ bản vẫn là các doanh nghiệp nhà nƣớc thuần túy. Điều này thể hiện ở một số khía cạnh nhƣ sau: thứ nhất, sở hữu trong công ty vẫn là sở hữu nhà nƣớc; thứ hai, mối liên hệ chủ yếu giữa tổng công ty với với cơ quan chủ quản và giữa chúng với các đơn vị thành viên vẫn là các mối quan hệ thiên về quản lý hành chính – kinh tế.
Sự chỉ đạo tập trung của bộ máy lãnh đạo của tổng công ty đối với các đơn vị thành viên mang tính quản lý hành chính, kinh tế; thứ ba, các đơn vị thành viên dù có tƣ cách pháp nhân hay không có tƣ cách pháp nhân đều chƣa thể là chủ thể đầy đủ của thị trƣờng; thứ tƣ, sự kiểm soát của bộ máy lãnh đạo tổng công ty chƣa dựa trên sự vận động của vốn… chính vì vậy, các tổng công ty vẫn tiếp tục ẩn chứa trong mình những căn bệnh cố hữu của doanh nghiệp nhà nƣớc, đó là hiệu quả thấp, thiếu năng động, và thiếu tính cạnh tranh, những căn bệnh hay những hạn chế này ngày càng lộ rõ khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế 5 toàn cầu. Do đó, đổi mới hệ thống doanh nghiệ pnhà nƣớc mộ cách cơ bản theo hƣớng phát triển thành những tập đoàn kinh tế mạnh là cần thiết. Cũng chính vì lý do này, việc tiếp tục hoàn thiện mô hình công ty với tƣ cách là các liên kết kinh tế của doanh nghiệp nhà nƣớc đã trở thành một đòi hỏi lớn của Đảng và Nhà nƣớc ta. Nghị quyết hội nghị trung ƣơng lần thứ IX đã khẳng định lại chủ trƣơng này: “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công ty nhà nƣớc, Tổng kết thí điểm việc chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con.
Tích cực hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh do tổng công ty nhà nƣớc làm nòng cốt” Tháng 11/2003 quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật doanh nghiệp nhà nƣớc sửa đổi và có hiệu lực tháng 7/2004. Trong đó quy định cụ thể về công ty mẹ - công ty con. Nghị định 153/2004 ngày 9/8/2004 quy định về việc tổ chức, quản lý tổng công ty nhà nƣớc, công ty nhà nƣớc độc lập theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 ra đời cùng với các nghị định hƣớng dẫn 139/2007/NĐ-CP, nghị định 141/2007/NĐ-CP đã bổ sung thêm nhiều vấn đề về các tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.