Luận văn thạc sĩ: Xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt cho quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích hus xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt cho quận ninh kiều thành phố cần thơ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho

Chuyên ngành

Thủy văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ khoa học

2015

86
8
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu của đề tài

0.3. Các nội dung thực hiện

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.4.1. Phương pháp nghiên cứu

0.4.2. Công cụ mô hình được sử dụng

0.5. Phạm vi nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGẬP LỤT ĐÔ THỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ NGẬP LỤT

1.1. Tổng quan về ngập lụt đô thị

1.2. Các nguyên nhân khách quan

1.2.1. Tác động của nhân tố địa lý, địa hình

1.2.2. Tác động của nhân tố mưa

1.3. Các nguyên nhân chủ quan

1.4. Phương pháp xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.2. Vị trí địa lí. Đặc điểm địa hình, địa mạo, địa chất

2.3. Đặc điểm khí hậu

2.4. Đặc điểm thủy văn

2.5. Kịch bản biến đổi khí hậu khu vực nghiên cứu

2.5.1. Các kịch bản biến đổi khí hậu đối với lượng mưa

2.5.2. Kịch bản nước biển dâng

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGẬP LỤT ĐÔ THỊ CHO QUẬN NINH KIỀU - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

3.1. Giới thiệu các mô hình

3.1.1. Lựa chọn mô hình tính toán

3.1.2. Giới thiệu chung về các mô hình

3.2. Số liệu đầu vào

3.2.1. Số liệu địa hình

3.2.2. Số liệu khí tượng

3.2.3. Số liệu thủy văn

3.3. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình

3.3.1. Mô hình thủy lực 1 chiều trong sông (MIKE 11)

3.3.2. Mô hình thủy lực 2 chiều (MIKE 21)

3.3.3. Mô hình thủy văn đô thị (MIKE URBAN)

3.3.4. Mô hình MIKE FLOOD

3.4. Xây dựng bản đồ ngập lụt đô thị

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bản đồ nguy cơ ngập lụt quận Ninh Kiều Cần Thơ

Bản đồ nguy cơ ngập lụt quận Ninh Kiều, Cần Thơ là một công cụ quan trọng trong việc quản lý và ứng phó với tình trạng ngập lụt tại khu vực này. Ninh Kiều, với vị trí địa lý đặc biệt và sự phát triển đô thị nhanh chóng, đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến ngập lụt. Việc xây dựng bản đồ này không chỉ giúp nhận diện các khu vực có nguy cơ cao mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách trong việc lập kế hoạch phòng chống lũ lụt.

1.1. Đặc điểm địa lý và khí hậu quận Ninh Kiều

Quận Ninh Kiều nằm ở trung tâm thành phố Cần Thơ, có địa hình thấp và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ dòng sông Cửu Long. Khí hậu tại đây là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11. Những yếu tố này làm tăng nguy cơ ngập lụt, đặc biệt trong mùa mưa lớn.

1.2. Tình hình ngập lụt hiện tại tại Ninh Kiều

Ngập lụt tại Ninh Kiều đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong những năm gần đây. Các trận mưa lớn và triều cường đã gây ra nhiều thiệt hại cho cơ sở hạ tầng và đời sống người dân. Theo số liệu thống kê, nhiều khu vực trong quận thường xuyên bị ngập, đặc biệt là trong các trận mưa lớn.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý ngập lụt tại Ninh Kiều

Quản lý ngập lụt tại quận Ninh Kiều đang gặp nhiều thách thức do sự phát triển đô thị không đồng bộ và biến đổi khí hậu. Các yếu tố như tăng trưởng dân số, bê tông hóa, và sự thay đổi khí hậu đã làm gia tăng nguy cơ ngập lụt. Việc thiếu hụt hệ thống thoát nước hiệu quả cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

2.1. Nguyên nhân gây ngập lụt tại Ninh Kiều

Nguyên nhân chính gây ngập lụt tại Ninh Kiều bao gồm sự gia tăng lượng mưa, triều cường, và sự phát triển đô thị không kiểm soát. Các nghiên cứu cho thấy, lượng mưa trung bình hàng năm tại khu vực này đã tăng lên đáng kể, làm gia tăng nguy cơ ngập lụt.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến ngập lụt

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng mực nước biển và tần suất các trận mưa lớn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn tác động trực tiếp đến đời sống của người dân tại Ninh Kiều. Các kịch bản dự báo cho thấy, nếu không có biện pháp ứng phó kịp thời, tình trạng ngập lụt sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn.

III. Phương pháp xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt cho Ninh Kiều

Việc xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt cho quận Ninh Kiều được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khoa học hiện đại. Các công cụ như mô hình thủy lực và hệ thống thông tin địa lý (GIS) được sử dụng để phân tích dữ liệu khí tượng và thủy văn, từ đó tạo ra bản đồ chính xác về nguy cơ ngập lụt.

3.1. Sử dụng mô hình thủy lực trong nghiên cứu

Mô hình thủy lực là công cụ quan trọng trong việc dự đoán và phân tích tình trạng ngập lụt. Mô hình MIKE 11 và MIKE 21 được sử dụng để mô phỏng dòng chảy và xác định các khu vực có nguy cơ cao. Kết quả từ mô hình giúp đưa ra các giải pháp hiệu quả trong việc quản lý ngập lụt.

3.2. Ứng dụng GIS trong xây dựng bản đồ

Hệ thống thông tin địa lý (GIS) cho phép tích hợp và phân tích dữ liệu không gian, giúp tạo ra bản đồ ngập lụt chi tiết. GIS giúp xác định các khu vực dễ bị tổn thương và hỗ trợ trong việc lập kế hoạch ứng phó với ngập lụt.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của bản đồ ngập lụt

Kết quả nghiên cứu về bản đồ nguy cơ ngập lụt cho quận Ninh Kiều đã chỉ ra những khu vực có nguy cơ cao và cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý. Bản đồ này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ ngập lụt mà còn hỗ trợ trong việc lập kế hoạch phát triển bền vững.

4.1. Kết quả chính từ nghiên cứu

Nghiên cứu đã xác định được các khu vực có nguy cơ ngập lụt cao nhất trong quận Ninh Kiều. Các bản đồ được xây dựng cho thấy rõ ràng các khu vực dễ bị tổn thương, từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có cơ sở để đưa ra các biện pháp phòng ngừa.

4.2. Ứng dụng bản đồ trong quản lý ngập lụt

Bản đồ nguy cơ ngập lụt được sử dụng làm công cụ hỗ trợ trong việc lập kế hoạch phát triển đô thị và quản lý tài nguyên nước. Các nhà quản lý có thể sử dụng thông tin từ bản đồ để đưa ra các quyết định kịp thời nhằm giảm thiểu thiệt hại do ngập lụt.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nghiên cứu ngập lụt

Nghiên cứu về bản đồ nguy cơ ngập lụt quận Ninh Kiều, Cần Thơ đã cung cấp những thông tin quý giá cho việc quản lý và ứng phó với tình trạng ngập lụt. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu và cập nhật dữ liệu để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của bản đồ trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc cập nhật dữ liệu

Việc cập nhật dữ liệu khí tượng và thủy văn là rất cần thiết để đảm bảo tính chính xác của bản đồ. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc thu thập dữ liệu mới và cải thiện các mô hình dự đoán.

5.2. Đề xuất các giải pháp ứng phó với ngập lụt

Các giải pháp ứng phó với ngập lụt cần được triển khai đồng bộ, bao gồm cải thiện hệ thống thoát nước, nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển các chính sách quản lý bền vững. Điều này sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do ngập lụt trong tương lai.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt cho quận ninh kiều thành phố cần thơ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGẬP LỤT ĐÔ THỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ NGẬP LỤT 1. Tổng quan về ngập lụt đô thị Thành phố Hà Nội, thành phố HCM và một số đô thị lớn khác ở nước ta trong những năm qua đã trải qua nhiều trận ngập lụt gây thiệt hại nặng nề. Điển hình tại Hà Nội, sáng ngày 22/8/2005 khi xảy ra trận mưa kéo dài từ 1h -5h sáng với lượng mưa đo được tại trạm Láng là 114,7 mm đã gây ách tắc giao thông nhiều giờ do đường phố ngập úng.

Cuối tháng 10, đầu tháng 11 năm 2008, trận mưa lịch sử đo được tại Láng đạt 340 mm làm ngập úng kéo dài gây thiệt hại nhiều về kinh tế. Hiện đã có khá nhiều các nghiên cứu về ngập lụt cho các đô thị ở Việt Nam. Điển hình như nghiên cứu của Hồ Long Phi về “Vấn đề ngập úng và thoát nước ở thành phố Hồ Chí Minh”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng mô hình quản lý nước mưa SWMM để mô phỏng lại khả năng tiêu thoát nước mưa của hệ thống cống thoát nước ở thành phố Hồ Chí Minh và đánh giá khả năng ngập lụt cho các khu vực trũng do sự quá tải của hệ thống tiêu thoát nước.

Tuy nhiên, tác giả mới chỉ xem xét ngập lụt do mưa lớn trên khu vực nội đô mà chưa đánh giá ngập lụt do triều cường cũng như do lũ lớn ở trong sông. Năm 2014, Nguyễn Phú Thắng có nghiên cứu về “Đánh giá hiện trạng, nguyên nhân ngập lụt cục bộ địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và đề xuất các giải pháp khắc phục. Trong nghiên cứu của mình, để đánh giá hiện trạng, xác định các nguyên nhân ngập lụt cục bộ tại địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, tác giả đã sử dụng các phương pháp như phương pháp điều tra thực địa, phương pháp bản đồ và phương pháp tổng hợp, so sánh. Do không sử dụng phương pháp mô hình toán nên nghiên cứu này chưa thể đánh giá được nguy cơ ngập cho thành phố Long Xuyên trong tương lai theo các kịch bản khác nhau.

Ngoài ra, một số sách về ngập lụt và tiêu thoát nước đô thị đã được xuất bản như “Thoát nước đô thị - một số vấn đề về lí thuyết và thực tiễn ở Việt Nam” của Trần Văn Mô do nhà xuất bản Xây dựng phát hành năm 2002 và “Giáo trình thủy văn đô thị” của Lã Thanh Hà và Nguyễn Văn Lai xuất bản năm 2012. Hiện tượng ngập lụt đô thị ở nước ta do nhiều nguyên nhân tác động đồng thời hoặc có thể chỉ do một nhân tố chủ đạo. Có thể chia thành 2 nhóm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan gây ra tình trạng ngập úng bao gồm tác động bởi các nhân tố tự nhiên như địa lý, địa hình và điều kiện khí tượng thủy văn.

Các nhân tố chủ quan chủ yếu do con người tạo ra như tác động trở lại của đô thị hóa, năng lực hiện trạng và công tác quản lý hệ thống tiêu thoát nước đô thị. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nguyên nhân khách quan a) Tác động của nhân tố địa lý, địa hình [8] Các đô thị nằm ở khu vực có địa hình cao như núi, cao nguyên và vùng trung du như Thái Nguyên, Việt Trì, Lạng Sơn, Đà Năng, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Plâycu.thường không bị ngập úng đe dọa do dòng chảy mưa được dẫn thoát tự chảy dễ dàng. Tuy nhiên ở các đô thị này cũng có thể có ngập úng cục bộ do quy hoạch san nền chưa hợp lý cộng với sự yếu kém của hệ thống thoát nước bao gồm cả thiết kế kỹ thuật lẫn công tác quản lý, duy tu.

Ngược lại ở các đô thị thuộc khu vực đồng bằng, do địa hình thấp nên khả năng thoát nước tự chảy cho các đô thị này rất khó thực hiện. Đối với các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng - Thái Bình, trong các tháng mùa mưa, mực nước sông thường cao hơn nền đường đô thị nên không thể thoát nước tự chảy ra sông. Lấy thành phố Hà Nội làm ví dụ. Địa hình khu vực nội thành (cao độ trung bình khoảng 6 - 6,5m) nhìn chung không cao hơn so với vùng ngoại thành.

Đặc biệt vào các tháng mùa lũ, khi mực nước sông Hồng vượt báo động 1 (H = 7,5 m tại cầu Long Biên), mực nước sông bắt đầu cao hơn nền đường, thành phố đứng trước nguy cơ bị ngập úng nếu xảy ra các trận mưa cỡ 50 mm trở lên. Vì lý do như vậy, trong mùa mưa, đập Liên Mạc (cửa nhận nước tưới đầu nguồn của sông Nhuệ từ sông Hồng vào mùa kiệt) luôn luôn được đóng lại để sông Nhuệ trở thành con sông tiêu nước chính cho thành phố. Do vậy khả năng tiêu nước cho Hà Nội hoàn toàn phụ thuộc vào mực nước sông Nhuệ nói riêng và khả năng tiêu của hệ thống công trình thủy lợi Nam Hà Nội, Hà Nam với trục tiêu thoát chính sông Đáy nói chung. Nếu mực nước sông Nhuệ tại hạ lưu đập Thanh Liệt lên đến 3,5 m, sông Tô Lịch - trục thoát nước chính của thành phố không còn khả năng tự chảy nữa.

Lúc này đập Thanh Liệt phải đóng lại, nước mưa chỉ còn khả năng tự điều tiết và là nguyên nhân gây ra ngập úng cho thành phố. Mức và diện ngập phụ thuộc vào lượng mưa và thời gian kéo dài, ví dụ trận ngập úng kéo dài nhiều ngày từ 17 đến 24/7/1997 như đã nêu ở trên. Đối với các đô thị vùng đồng bằng cửa sông chịu ảnh hưởng thủy triều, tình hình ngập úng còn phức tạp hơn. Trong các tháng mùa lũ, mực nước ở cửa sông thường duy trì ở mức cao hơn mực nước trung bình năm.

Nếu đỉnh lũ xuất hiện vào thời gian triều lên sẽ tạo nên tổ hợp giữa lũ và triều gây ra hiện tượng nước vật. Xét trong các chu kỳ dài, ví dụ cho toàn trận lũ thì thòi kỳ duy trì nước vật kéo dài hơn sẽ gây ra những diễn biến phức tạp về chế độ thủy văn cửa sông như hướng chảy, tốc độ, mực nước và cả diễn biến lòng sông. Đặc biệt, nếu xuất hiện trường hợp: Mưa lớn do bão xảy ra trong thời kỳ triều cường kết hợp với lũ lớn trên sông sẽ là tổ hợp bất lợi nhất cho thoát nước tự chảy ở các khu vực đô thị, khu công nghiệp vùng cửa sông. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trận lũ, ngập lịch sử tháng IX/1993 xảy ra ở khu vực tỉnh Phú Yên là một ví dụ cho tổ hợp bất lợi và nguy hiểm này.

Tình hình ngập úng ở thành phố Hải Phòng, như đã mô tả, là một ví dụ điển hình về nguyên nhân địa hình và vị trí địa lý cho khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình. Đối với thành phố có địa hình thấp như thành phố này, ngay cả trong trường hợp không mưa nhưng vào các thời kỳ triều cường cũng gây ra tình trạng ngập úng cục bộ cho nhiều khu vực có cao độ thấp của thành phố. Nước mặn có thể dễ dàng qua các cửa cống và tràn từ ga thu, ga thăm lên mặt đường phố, ngõ và các khu dân cư nội thành. Thành phố Hồ Chí Minh tuy cách cửa biển đến 45- 50 km nhưng do nằm ở khu vực có địa hình thấp nên còn chịu tác động của chế độ thủy triều Biển Đông khá rõ nét.

Địa hình thành phố phần phía bắc và đông bắc nói chung cao hơn các vùng khác (cao độ 5- 10 m) và thấp dần theo hướng tây nam (cao độ 2- 5 m ở quận Tân Bình và Quận 11). Ở phía nam và đông nam thành phố là vùng thấp, trũng (cao độ phổ biến từ 1 - 2 m) và thường bị ngập úng do mưa và thủy triều. Sông Sài Gòn, sông Đồng Nai là hai con sông lớn ở phía đông nội thành và chảy ra Biển Đông qua hai vịnh Gành Rái và Đồng Tranh. Ngoài hệ thống sông chính, trên địa bàn thành phố còn có nhiều kênh, rạch chằng chịt tạo thành hệ thống tiêu thoát nước rất phức tạp khó nhận dạng lưu vực như hệ thống sông Vàm Thuật - Rạch Cát - Tham Lương ở phía bắc và tây bắc, hệ thống kênh Tẻ, kênh Đôi, Bén Nghé - Tàu Hủ ở phía nam và đông nam v.

Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng trực tiểp của chế độ bán nhật triều của Biển Đông với chế độ tương đối thuần nhất: một ngày có hai lần triều lên và hai lần triều xuống. Theo số liệu thống kê, thời gian duy trì mực nước trên mực nước 0 tại trạm Phú An (tại vị trí cảng Sài Gòn) trong tháng 10 hàng năm chiếm đến 75% thời gian trong ngày. Trong những ngày triều cường, con số đó chiếm đến 85 - 95%. Với các cao độ đáy cống tại các cửa xả của thành phố ra sông Sài Gòn thường từ -1 đến - 1,8 m thì các tuyến cống hạ lưu của hệ thống thoát nước liên tục bị ngập.

Nếu gặp mưa lớn trong thời kỳ này sẽ gây ra nhiều khu vực bị ngập đồng thời hạn chế khả năng thoát nước cho các khu vực có địa hình cao hơn như khu vực phía bắc và đông bắc. Thêm vào đó, nếu vào thời kỳ xả nước lớn nhất cùa hai hồ Dầu Tiếng và Trị An trùng với tồ hợp triều cường và mưa tại chỗ sẽ gây ra ngập úng trên diện rộng hơn, độ sâu ngập lớn hơn và thời gian duy trì ngập cũng kéo dài hơn. Ví dụ như trường hợp các đợt úng ngập xảy ra liên tiếp trong các năm 1988, 1989, 1990, và hiện nay. b) Tác động của nhân tố mưa [8] Ở nước ta, mưa là nguyên nhân gây ra lũ, lụt cho toàn lưu vực sông nói chung và khu vực đô thị nói riêng.

6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa năm khá dồi dào. Lượng mưa trung bình năm ở các đô thị nước ta, phổ biến từ 1500 mm đến 2000 mm - thuộc loại trung bình so vói các nước trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, lượng mưa năm phân bố rất không đều theo các mùa trong năm. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9/10 đối với các tỉnh phía Bắc và có xu hướng chuyển dịch muộn hơn khoảng 1 - 2 tháng đối từ các tỉnh miền Trung vào miền Nam.

Lượng mưa trong các tháng mùa lũ chiếm từ 75 - 80% tổng lượng mưa năm và là nhân tố chủ yếu gây ra tình trạng lũ và ngập úng cho lưu vực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bản đồ nguy cơ ngập lụt quận Ninh Kiều, Cần Thơ: Nghiên cứu và Phân tích" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình ngập lụt tại quận Ninh Kiều, một khu vực đang phải đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi khí hậu và sự phát triển đô thị. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố gây ra ngập lụt mà còn đưa ra bản đồ nguy cơ, giúp người dân và các nhà quản lý có cái nhìn rõ ràng hơn về những khu vực dễ bị tổn thương.

Tài liệu mang lại nhiều lợi ích cho độc giả, từ việc nâng cao nhận thức về tình trạng ngập lụt đến việc hỗ trợ trong việc lập kế hoạch ứng phó và phát triển bền vững. Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá rủi ro xâm nhập mặn khu vực ven biển Thái Bình, Nam Định, nơi phân tích các rủi ro liên quan đến xâm nhập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành thủy văn học nghiên cứu đánh giá tác động của các hồ chứa đến ngập lụt hạ lưu sông Lam cũng sẽ cung cấp cái nhìn về ảnh hưởng của các hồ chứa đến tình trạng ngập lụt, giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo.

Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng công trình biển đề xuất giải pháp thiết kế nâng cấp tu bổ hệ thống đê biển huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa sẽ mang đến những giải pháp thiết thực để ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu cho các khu vực ven biển. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến ngập lụt và quản lý tài nguyên nước.