Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Trong chương này, khóa luận: - Trình bày đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng, chương trình Toán lớp 3 hiện hành. - Trình bày thực tiễn về vấn đề học sinh học Toán Tiếng Anh và các kì thi Toán Tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người (nhận thức, tình cảm và hành động). Thông qua hoạt động nhận thức, con người có được các tri thức về thế giới xung quanh, về chính bản thân mình để tỏ thái độ và tiến hành các hoạt động khác một cách có hiệu quả.
Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình phản ánh hiện thực khách quan ở những mức độ khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng,.) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, biểu tượng, khái niệm). Mỗi giai đoạn lứa tuổi có những đặc điểm phát triển riêng. Trong điều kiện sống và hoạt động mới của cuộc sống nhà trường, dựa trên nền tảng của những thành tựu phát triển về mọi mặt của các giai đoạn lứa tuổi trước, đời sống tâm lí của học sinh tiểu học có những biến đổi và phát triển để làm nên “chất tiểu học” trong mỗi đứa trẻ. Sự biến đổi, phát triển này diễn ra trên tất cả các mặt của cấu trúc nhân cách cũng như trong mọi chức năng tâm lí của cá nhân trẻ, trong đó có nhận thức.
Sự phát triển các quá trình nhận thức ở học sinh tiểu học có những bước tiến mới so với lứa tuổi mẫu giáo. 4 - Tri giác của HS tiểu học. Tri giác của học sinh tiểu học mang tính không chủ định, đại thể, ít đi sâu vào chi tiết. Tri giác của các em thường gắn liền với hành động, với hoạt động thực tiễn của bản thân.
Vì vậy, cái trực quan, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực đối với các em. Tri giác không gian và thời gian của các em còn bị hạn chế. Các em rất khó khăn khi phải quan sát các vật có kích thước quá lớn hoặc quá bé. Tri giác của các em phát triển trong quá trình của hoạt động học tập.
Sự phát triển này diễn ra theo hướng ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân hóa rõ ràng hơn, có chọn lọc hơn. - Khả năng chú ý của HS tiểu học. Đối với đặc điểm chú ý của các em thì chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế. Tất cả những gì mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường đều dễ dàng cuốn hút sự chú ý của các em mà không cần bất kì một sự nỗ lực nào của ý chí.
Sự chú ý không chủ định của học sinh tiểu học càng trở nên đặc biệt, tập chung bền vững khi tài liệu học tập có tính trực quan, sinh động hoặc khơi gợi ở trẻ những rung cảm tích cực. Học sinh tiểu học không thể tập trung chú ý vào những gì không rõ ràng, không hiểu, hoặc quá quen thuộc, buồn chán. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, học sinh tiểu học thường chỉ tập trung và duy trì sự chú ý trong khoảng 30 - 35 phút. Ngoài ra, chú ý của học sinh tiểu học phụ thuộc vào nhịp độ học tập.
Nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập chung chú ý. Khối lượng chú ý của học sinh tiểu học hẹp, sự phân phối chú ý của các em diễn ra một cách khó khăn. Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ. - Trí nhớ của HS tiểu học. Ở học sinh tiểu học, trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic.
Các em ghi nhớ và nhớ lại các tài liệu trực quan tốt hơn tài liệu bằng lời, hoặc những gì được trực tiếp tác động lên đó hơn là những gì chỉ được giảng giải. Tính 5 không chủ định vẫn chiếm ưu thế cả trong ghi nhớ lẫn tái hiện. Dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập, trí nhớ chủ định, trí nhớ ý nghĩa, trí nhớ từ ngữ - logic được xuất hiện, phát triển và cùng với trí nhớ không chủ định, trí nhớ máy móc, trí nhớ trực quan - hình tượng, chúng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học. - Trí tưởng tượng của HS tiểu học.
Trí tưởng tượng của HS tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng phong phú. Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành, phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác của các em. Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của tưởng tượng ở học sinh tiểu học là hướng dần đến phản ánh một cách đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan. Hình ảnh tưởng tượng của các em ngày càng trở nên phân biệt hơn, chính xác hơn và rõ ràng hơn.
- Tư duy của HS tiểu học. Tư duy của HS tiểu học mang tính đột biến, chuyển từ tư duy tiền thao tác sang tư duy thao tác. Sở dĩ có nhận định như vậy là do trẻ trong giai đoạn mẫu giáo và đầu cấp tiểu học, tư duy chủ yếu diễn ra trong hành động: hành động trên các đồ vật và hành động tri giác (phối hợp hoạt động của các giác quan). Bản chất của loại tư duy này là trẻ tiến hành các hành động để phân tích, so sánh, đối chiếu với các sự vật, hiện tượng.
Đặc điểm nổi bật trong tư duy của học sinh tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát. Học sinh tiểu học đã biết tiến hành so sánh, nhưng thao tác này vẫn chưa được hình thành một cách đầy đủ. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 3 Thứ nhất, tri giác của học sinh lớp 3: các em đã nắm được kĩ thuật tri giác, học cách nghe, nhìn, phân biệt được những dấu hiệu chủ yếu và quan trọng của sự vật, tri giác dần mang tính có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm bài tập từ dễ đến khó,. Thứ hai, khả năng chú ý của học sinh lớp 3: các em học sinh dần hình thành kĩ năng tổ chức.
Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong các hoạt động học tập như: học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát,. Trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được một khoảng thời 6 gian cho phép để thực hiện một nhiệm vụ nào đó và cố gắng hoàn thành đúng quy định. Thứ ba, trí nhớ của học sinh lớp 3: giai đoạn lớp 3 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển.
Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tập trung trí tuệ của học sinh, sự lôi cuốn của nội dung bài học, hứng thú của học sinh,. Thứ tư, Trí tưởng tượng của học sinh lớp 3: đặc điểm chung của trí tưởng tượng của học sinh ở giai đoạn này là hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản và dễ thay đổi. Học sinh đã có khả năng tái hiện lại hình ảnh của đối tượng thực (trẻ còn bỏ sót nhiều chi tiết), các hình ảnh được cấu trúc thường ở dạng tĩnh. Thứ năm, Tư duy của học sinh lớp 3: học sinh ở lớp 3 đã chuyển được các thao tác cụ thể như phân tích, khái quát, so sánh,.
từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong dựa vào các hành động với đối tượng thực. Biểu hiện rõ nhất của bước phát triển này là học sinh đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi hình ảnh tri giác về chúng. Tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế, cụ thể: + Học sinh nắm được các mối quan hệ của khái niệm; + Những thao tác về tư duy như: phân loại, phân dạng tính toán, không gian, thời gian,. được hình thành và phát triển mạnh.
Chương trình Toán lớp 3 hiện hành Chương trình Toán lớp 3 hiện hành, gồm 5 mạch kiến thức, được phân phối với thời lượng 5 tiết/ tuần x 35 tuần = 175 tiết Số học a) Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000 (tiếp) - Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 (tích không quá 50) và các bẳng chia cho 2, 3, 4, 5 (số bị chia không quá 50). Bổ sung cộng, trừ các số có ba chữ số nhớ không quá một lần. - Lập các bảng nhân với 6, 7, 8, 9, 10 (tích không quá 100) và các bảng chia cho 6, 7, 8, 9, 10 (số bị chia không quá 100). - Hoàn thiện các bảng nhân và các bảng chia.
7 - Nhân chia ngoài bảng trong phạm vi 1000: nhân số có hai, ba chữ số với một số có một chữ số có nhớ không quá một lần, chia số có hai, ba chữ số cho số có một chữ số. Chia hết và chia có dư. - Thực hành tính: tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính, nhân nhẩm số có hai chữ số với số có một chữ số không nhớ, chia nhẩm số có hai chữ số với số có một chữ số không có dư ở từng bước chia. Củng cố về cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000 theo các mức độ đã xác định.
- Làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức. - Giới thiệu các thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến 2 dấu phép tính, có hoặc không có ngoặc. - Giải các bài tập dạng: "Tìm x biết a : x = b (với a, b là số trong phạm vi đã học)".