Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh ở trường THPT Luận án tiến sĩ của Nguyễn Lâm Đức (2016) về Vận dụng phương pháp dạy học tích cực bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học chương “Từ trường” Vật lí 11 Trung họ phổ thông, do PGS. Phạm Thị Phú hướng dẫn, Trường ĐH Vinh.
Trong luận văn này tác giả đã xây dựng 4 tiến trình dạy học theo phương pháp dạy học tích cực. Bao gồm các tiến trình dạy kiến thức “Cảm ứng từ”, “Từ trường của dòng điện chạy trong dây dẫn có hình dạng đặc biệt”, “Chế tạo động cơ điện một chiều đơn gian”, “Từ trường”. Tác giả đã tiến hành thực nghiệm ở 3 trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, trường THPT Hà Huy Tập và trường THPT Cửa Lò trên địa bàn tỉnh Nghệ An và thu được những kết quả ban đầu: nâng cao hiệu quả dạy học, phát triển NL GQVĐ cho HS. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Minh Ngọc (2017) với Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập có nội dung thức tiễn chương “Cơ học chất lưu” Vật lí 10 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, do PGS.
Phạm Xuân Quế hướng dẫn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Trong luận văn này, tác giả đã xây dựng 2 tiến trình xây dựng kiến thức dựa trên PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề áp suất thủy tĩnh và định luật Bec-nu-li. Tác giả đã tiến hành thực nghiệm tại trường THPT Hùng Vương, tỉnh Bình Phước, thông qua việc thực nghiệm, tác giả đã bước đầu giúp HS phát triển năng lực giải quyết vấn đề nhờ các tiến trình dạy học đã xây dựng. Các nghiên cứu về bài tập vật lí Trong quá trình dạy học vật lí, bài tập vật lí có tầm quan trọng đặc biệt.
Trong các bài tập, HS có thể hiểu biết một cách chính xác, sâu sắc và toàn diện hơn những quy luật vật lí, những hiện tượng vật lí, biết cách phân tích chúng và ứng dụng chúng vào các vấn đề thực tiễn. Ngoài ra bài tập vật lí sẽ giúp HS thấy được những ứng dụng muôn hình, muôn vẻ trong thực tiễn của các kiến thức đã học. Vì lí do trên, các nghiên cứu khoa học về vấn đề này chiếm một vị trí đáng kể và khai thác khá nhiều mặt, nhiều góc cạnh khác nhau của bài tập vật lí với những mục đích khác nhau. Luan van 6 Cụ thể luận án tiến sĩ của Nguyễn Thế Khôi (1995) về Một phương án xây dựng hệ thống bài tập phần Động lực học lớp 10 THPT nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Hải với Nghiên cứu xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập định tính trong dạy học cơ học vật lí 10 trung học phổ thông,.
Ngoài ra còn có nhiều luận văn thạc sĩ khoa học nghiên cứu về vấn đề này như: Đồng Thị Vân Thoa (2001) với Một số biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh THPT miền núi khi giảng dạy bài tập vật lí, Nguyễn Thị Mai Anh (2002) với Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh lớp 10 THPT qua giải bài tập vật lí bằng phương pháp vectơ, Nguyễn Thị Nga (2004) với Lựa chọn và phối hợp các giải pháp nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh THPT trong giờ giải bài tập vật lí, Đỗ Thị Thúy Hà (2009) với Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại để phát triển hứng thú và năng lực tự lực học tập cho học sinh qua các hoạt động giải bài tập vật lí phần cơ học (chương trình vật lí 10 nâng cao),.Các nghiên cứu về bài tập vật lí thực sự đã đem lại nguồn tài liệu phong phú và thực sự hữu ích cho giáo viên vật lí và học sinh. Các nghiên cứu về bài tập vật lí có nội dung thực tiễn Bài tập vật lí thực tiễn là bài tập vật lí gắn với những gì đang tồn tại và diễn ra trong tự nhiên và xã hội, có quan hệ đến đời sống con người. Thông qua việc giải bài tập vật lí thực tiễn, học sinh có thể nhận biết được tầm quan trọng của vật lí trong cuộc sống, có thể vận dụng các kiến thức vật lí giải quyết các vấn đề xảy ra trong cuộc sống của chính mình. Do đó, có nhiều nghiên cứu về bài tập vật lí có nội dung thực tiễn cụ thể như sau: Luận văn thạc sĩ của Dương Duy Minh (2017) về Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn chương Chất khí (Vật lí 10 Trung học Phổ Thông) nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, do TS.
Nguyễn Mạnh Hùng hướng dẫn, Trường ĐH Sư phạm TP. Trong luận văn này, tác giả đã xây dựng 9 bài tập thực tiễn cho bài Định luật Bôi – lơ – Mari - ốt, 7 bài tập thực tiễn cho bài cho định luật Sác – lơ, 8 bài tập thực tiễn cho bài cho Phương trình trạng thái khí lí tưởng và 2 bài tập đồ thị biến đổi trạng thái. Thông qua việc xử lí kết quả thực nghiệm ở trường THPT Ngô Thời Nhiệm, TP.HCM tác giả đã chứng minh được rằng việc áp dụng hệ thống BT Luan van 7 thực tiễn trong suốt quá trình dạy học không chỉ giúp HS tích cực mà còn phát huy năng lực sáng tạo. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Lê Ngọc Hồng (2014) với Xây dựng và hướng dẫn học sinh giải các bài tập thực tế vào dạy học chương “Các định luật bảo toàn” – Vật lí 10 cơ bản, do TS.
Nguyễn Đông Hải hướng dẫn, Trường ĐH Sư phạm TP. Trong luận văn này, tác giả đã xây dựng hệ thống gồm 20 bài tập thực tế và 2 tiến trình cho 2 tiết giải bài tập theo phân phối chương trình. Qua quá trình thực nghiệm, tác giả đã chứng minh được việc sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn mà tác giải đã xây dựng đã khắc phục một số hạn chế của các bài tập vật lí đang được sử dụng phổ biến hiện nay và nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vật lí vào tình huống thực tế của học sinh. Năng lực và năng lực giải quyết vấn đề 1.
Khái niệm về năng lực - Theo tư điển Hán Việt năng lực là: Bổn lĩnh, tài năng, tài cán (có thể gánh vác, thực hiện một công việc). - Theo nghiên cứu thế giới thì có những khái niệm về NL như sau: + Howard Gardner (1999): “NL phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” (Gardner, Howard,1999).Weinert (2001) cho rằng: “NL là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách GQVĐ một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” (Wenier, F. + Denyse Tremblay cho rằng NL là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống. + Chương trình Giáo dục Trung học (GDTH) bang Québec, Canada năm 2004 xem NL “là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn Luan van 8 lực.
- Riêng ở Việt Nam cũng có một số nghiên cứu về năng lực và đã đưa ra những khái niệm NL như sau: + Tài liệu hội thảo CT giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể trong CT GDPT mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) xếp NL vào phạm trù hoạt động khi giải thích: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. + Cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “NL là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. + Cách hiểu của Đặng Thành Hưng: “NL là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
+ Còn theo tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn (Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh) đã nêu một cách khá khái quát rằng năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm (Nguyễn Anh Tuấn, 2002). - Như vậy, cho dù là khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này. Tựu chung lại, năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả.
- Theo cách hiểu thông thường, năng lực là sự kết hợp của tư duy, kĩ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ (DeSeCo, 2002). - Cùng với khái niệm năng lực là khái niệm “năng lực cốt lõi” (key competences) bao gồm một số năng lực được coi là nền tảng. Dựa trên những năng lực cốt lõi này, người học có thể thực hiện được yêu cầu của học tập cũng như các yêu cầu khác trong Luan van 9 các bối cảnh và tình huống khác nhau khi đạt được những năng lực thứ cấp. Theo định nghĩa của các nước có nền kinh tế phát triển (OECD), năng lực cốt lõi bao gồm: những năng lực nền tảng như năng lực đọc hiểu, năng lực tính toán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp… Do vậy, năng lực có tính phức hợp hơn kĩ năng và mức độ thành thạo của một kĩ năng cũng quyết định một phần tới mức độ cao thấp của năng lực.
Đi sâu vào ngành hoặc chuyên ngành cụ thể khái niệm năng lực lại được định nghĩa ở phạm vi hẹp hơn phù hợp với đặc thù của từng ngành/chuyên ngành.