Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân sư phạm của tác giả Tạ Hoàng Phúc được thực hiện trong bối cảnh toàn ngành giáo dục Việt Nam triển khai thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội và Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (CT GDPT 2018). Trọng tâm của quá trình chuyển đổi này là chuyển từ nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực cho người học. Trong hệ thống 10 năng lực cốt lõi (gồm 3 năng lực chung và 7 năng lực đặc thù), năng lực tự chủ và tự học được xác định là một trong những thành tố quan trọng nhưng gặp nhiều khó khăn nhất trong quá trình hình thành và phát triển ở học sinh trung học phổ thông (THPT).
Thực tiễn dạy học môn Hóa học cho thấy sự bùng nổ của công nghệ thông tin tạo ra nhiều nguồn dữ liệu nhưng ý thức, động cơ và kỹ năng tự học của học sinh vẫn còn hạn chế; hiện tượng thụ động, ỷ lại còn phổ biến. Trong Chương trình Hóa học 2018, phần kiến thức Hóa học hữu cơ lớp 11 có nhiều thay đổi căn bản so với Chương trình 2006, tính chất nội dung trừu tượng và phức tạp, đòi hỏi học sinh phải có năng lực tự lực tiếp cận tri thức. Trước yêu cầu đó, việc khai thác bài tập hóa học theo định hướng tự học trở thành một công cụ sư phạm cần thiết để dẫn dắt học sinh tự học, tự nghiên cứu và giải quyết vấn đề.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 02 nội dung chính:
- Xây dựng hệ thống bài tập hóa học phần Hóa học hữu cơ (lớp 11) nhằm phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh.
- Sử dụng hệ thống bài tập tự học hóa học nói trên với những hình thức triển khai và mục tiêu dạy học khác nhau trong thực tiễn nhà trường phổ thông.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác lập qua 06 bước cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
- Khảo sát nhu cầu và nhận thức của giáo viên và học sinh về bài tập hóa học trong phát triển năng lực tự học.
- Đề xuất khung tiêu chí phát triển năng lực tự học thông qua bài tập tự học và thiết kế hệ thống bài tập tự học hóa học cho từng chủ đề phần Hóa học hữu cơ lớp 11 dựa trên các tiêu chí đó.
- Đề xuất các biện pháp sử dụng bài tập tự học trong dạy học Hóa học tại nhà trường.
- Lấy ý kiến chuyên gia về độ chính xác và phù hợp của hệ thống bài tập cùng các biện pháp đề xuất.
- Thực nghiệm các biện pháp sử dụng bài tập tự học và đánh giá tính hiệu quả.
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào chương trình dạy học môn Hóa học ở THPT cùng đội ngũ giáo viên và học sinh tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Phạm vi nghiên cứu nội dung chuyên môn giới hạn trong 03 chủ đề thuộc phần Hóa học hữu cơ lớp 11 theo CT GDPT 2018: "Hydrocarbon", "Dẫn xuất halogen – Alcohol – Phenol" và "Hợp chất carbonyl – Carboxylic acid".
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các quan điểm về năng lực của Gerard và Roegiers (1993), De Ketele (1995), John Erpenbeck; quan niệm về quá trình tự học của Malcolm Shepherd Knowles (1975) và các hình thức tự học (tự học không có hướng dẫn và tự học có hướng dẫn) theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quang. Mô hình chu trình tự học khép kín gồm 3 thời kỳ: (I) Tự nghiên cứu, (II) Tự thể hiện, (III) Tự kiểm tra và tự điều chỉnh được áp dụng xuyên suốt làm căn cứ sư phạm. Về phân loại mức độ nhận thức, đề tài vận dụng thang đo nhận thức Bloom (1956) được chuẩn hóa cho giáo dục phổ thông thành 4 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng và Vận dụng cao. Đồng thời, khóa luận dựa trên cơ sở lý luận của 03 phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực: phương pháp dạy học hợp tác, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề và phương pháp dạy học hợp đồng.
Tác giả đã sử dụng kết hợp ba nhóm phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Nghị quyết 88/2014/QH13, Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT), các tài liệu tâm lý học lứa tuổi, giáo trình lý luận dạy học hóa học, các công trình luận văn, luận án liên quan đến năng lực tự học và hệ thống bài tập hóa học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra thực trạng bằng phiếu hỏi trực tuyến và phỏng vấn chuyên sâu đối với 76 giáo viên THPT tại 7 tỉnh, thành phố (Lâm Đồng, Gia Lai, Nghệ An, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Đắk Nông, TP. Hồ Chí Minh) và 198 học sinh tại Trường THPT Hoà Vang, Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (Đà Nẵng).
- Khảo nghiệm sư phạm: Lấy ý kiến đánh giá của giáo viên hóa học THPT tại Đà Nẵng về độ phù hợp và tính khả thi của hệ thống bài tập cùng các đề kiểm tra.
- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành tổ chức dạy học đối chứng và thực nghiệm tại trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng để kiểm chứng hiệu quả phát triển năng lực tự học của học sinh.
- Phương pháp thống kê toán học: Ứng dụng thống kê để xử lý các bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích, tính toán điểm trung bình, độ lệch chuẩn và các tham số kiểm định đối với kết quả kiểm tra định lượng giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu trước đây về bài tập hóa học phát triển năng lực như công trình của Lê Văn Năm và Nguyễn Thị Lan Anh (2021), Trần Thị Diễm Thùy (2016), Trần Anh Tuấn (2017), Đỗ Thị Ánh Tuyết (2015). Tác giả chỉ ra rằng các tài liệu trước đây thường xây dựng bài tập tiếp cận từ tri thức đã học trên lớp để giải quyết nhiệm vụ mà thiếu vắng sự dẫn dắt, gợi ý dữ liệu để học sinh tự kiến tạo tri thức mới. Tiếp đó, chương này phân tích các định hướng mở của CT GDPT 2018, hệ thống hóa cấu trúc năng lực hóa học (gồm 3 thành phần: Nhận thức hóa học, Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học, Vận dụng kiến thức kĩ năng đã học) và các thành phần của năng lực tự chủ và tự học (Tự lực, Tự khẳng định và bảo vệ quyền/nhu cầu, Tự điều chỉnh tình cảm/thái độ/hành vi, Thích ứng với cuộc sống, Định hướng nghề nghiệp, Tự học và tự hoàn thiện).
Nội dung trọng tâm của chương là báo cáo kết quả khảo sát thực trạng về việc biên soạn và sử dụng bài tập tự học, phản ánh nhu cầu cấp thiết từ cả phía giáo viên và học sinh:
| Nhóm đối tượng |
Nội dung khảo sát chính |
Tỷ lệ lựa chọn tiêu biểu (%) |
| Giáo viên (n = 76) |
Khó khăn khi xây dựng bài tập phát triển năng lực theo yêu cầu cần đạt |
89,47% |
|
Khó khăn khi tìm nguồn tài liệu tham khảo khoa học, chính xác |
56,58% |
|
Đánh giá hệ thống bài tập hiện có còn ít và cần bổ sung thêm |
60,53% |
|
Nhận định học sinh gặp khó khăn do khả năng tự học chưa cao |
67,11% |
|
Tần suất thường xuyên sử dụng bài tập tự học trong dạy học |
9,21% |
|
Nhu cầu bài tập tự học cần bám sát nội dung sách giáo khoa |
92,11% |
|
Nhu cầu phần dẫn dắt câu hỏi phải mới lạ, giúp phát triển năng lực |
68,42% |
| Học sinh (n = 198) |
Đánh giá hệ thống bài tập còn ít và chưa đa dạng |
41,92% |
|
Khó khăn khi bài tập không cung cấp đầy đủ thông tin để tự suy luận |
47,47% |
|
Khó khăn khi không có lời giải, bài giảng mẫu hướng dẫn |
39,39% |
|
Thời gian tự học môn Hóa học dưới 3 giờ/tuần |
46,46% |
|
Nhận thức tự học ở nhà là điều kiện cần thiết để học tốt Hóa học |
52,02% |
Chương 2: Biên soạn và sử dụng bài tập phần Hoá học hữu cơ lớp 11 nhằm phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh
Chương 2 có dung lượng lớn nhất trong khóa luận (87 trang), tập trung giải quyết mục tiêu cốt lõi của đề tài thông qua ba phân đoạn chính:
Phân tích yêu cầu cần đạt: Tác giả bóc tách hệ thống yêu cầu cần đạt quy định trong CT GDPT 2018 cho 03 chủ đề: "Hydrocarbon" (Alkane, Hydrocarbon không no, Arene); "Dẫn xuất halogen – Alcohol – Phenol"; "Hợp chất carbonyl – Carboxylic acid". Các yêu cầu này được chi tiết hóa từ nhận biết cấu trúc, tính chất vật lý, tính chất hóa học, cơ chế phản ứng, các kĩ thuật thực nghiệm đến khả năng ứng dụng thực tiễn và bảo vệ môi trường.
Xây dựng hệ thống bài tập tự học: Hệ thống bài tập được thiết kế kèm theo khung tiêu chí bồi dưỡng năng lực tự học gồm 4 tiêu chí (TC1: Tìm kiếm tài liệu tham khảo; TC2: Xác định kiến thức trọng tâm qua xử lý dữ kiện; TC3: Phân tích thông tin và mối quan hệ giữa các dữ liệu; TC4: Vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề khoa học hoặc thực tiễn). Mỗi bài tập tự học trong khóa luận đều có cấu trúc kép: hệ thống câu hỏi phân hóa từ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng đến Vận dụng cao; đi kèm "Yêu cầu tự học của học sinh" (hướng dẫn chi tiết cách thức tư duy) và "Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh qua bài tập" (chỉ rõ bài tập đáp ứng những tiêu chí nào). Văn bản trình bày cụ thể nhiều bài tập điển hình:
- Bài tập tính toán nhiệt động hóa học của phản ứng cháy nhiên liệu và biến thiên enthalpy dựa trên năng lượng liên kết.
- Bài tập về phản ứng thế halogen của 2-methylbutane gắn với tính đối xứng không gian.
- Bài tập nghiên cứu cơ chế thế gốc tự do ($S_R$) của methane, propane qua 3 giai đoạn: Khơi mào, Phát triển mạch, Tắt mạch, liên hệ tới phản ứng điều chế dẫn xuất halogen và giải thích lý do không điều chế chlorofluorocarbon (CFC) theo cơ chế này.
- Bài tập giải thích quy tắc gọi tên danh pháp IUPAC đối với hydrocarbon không no có mạch phân nhánh và liên kết bội.
- Bài tập khai thác mô hình 3D về tính cản quay của liên kết đôi để rút ra điều kiện xuất hiện đồng phân hình học (cis - trans).
- Bài tập phân tích kỹ thuật thực nghiệm điều chế và thử tính chất của acetylene từ $CaC_2$, đánh giá độ an toàn của thao tác thí nghiệm và vai trò hóa chất ($NaOH$ loại tạp chất, $AgNO_3/NH_3$ tạo kết tủa).
- Bài tập giải đoán cấu trúc phân tử dựa trên dữ liệu phân tích phổ khối lượng EI-MS (peak ion phân tử $m/z = 68$) kết hợp độ bất bão hòa và tính chất hóa học.
- Bài tập tính toán tiêu thụ nhiên liệu của ngọn lửa đèn xì oxygen-acetylene trong hàn cắt kim loại dựa vào phương trình nhiệt hóa học và nhiệt dung riêng của kim loại.
Đề xuất 04 biện pháp sư phạm sử dụng bài tập tự học:
- Biện pháp 1: Sử dụng kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực để triển khai bài học mới. Tích hợp bài tập tự học vào tiến trình dạy học giải quyết vấn đề hoặc dạy học hợp tác nhằm giúp học sinh tự tìm kiếm và chiếm lĩnh kiến thức thay vì tiếp thu thụ động.
- Biện pháp 2: Sử dụng trong hoạt động "Vận dụng" của các bài giảng trên lớp. Giao các bài tập gắn với bối cảnh thực tiễn hoặc bài tập tích hợp kiến thức liên môn nhằm rèn luyện khả năng khái quát hóa và giải quyết các tình huống đời sống.
- Biện pháp 3: Sử dụng kết hợp với phương pháp dạy học hợp đồng để triển khai các bài luyện tập. Xây dựng hệ thống bài tập thành các nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn trong bản hợp đồng học tập, cho phép học sinh tự chủ về thời gian, thứ tự thực hiện và tự đánh giá tiến độ.
- Biện pháp 4: Sử dụng trong kiểm tra đánh giá. Xây dựng ma trận, bảng đặc tả và đề kiểm tra định kỳ có tích hợp các câu hỏi đánh giá mức độ phát triển năng lực tự học của học sinh.
Chương 3: Khảo nghiệm – Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc kiểm chứng tính đúng đắn và hiệu quả của các sản phẩm nghiên cứu:
- Khảo nghiệm sư phạm: Khảo sát ý kiến chuyên gia và giáo viên hóa học về sự phù hợp của hệ thống bài tập tự học, ma trận đề kiểm tra và tính khả thi của 04 biện pháp dạy học đề xuất. Kết quả khảo nghiệm thể hiện sự đồng thuận cao của giáo viên về tính khoa học và giá trị sư phạm của tài liệu.
- Tiến trình thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm được tiến hành thông qua việc triển khai các giáo án thực nghiệm cụ thể: Kế hoạch bài dạy bài "Anken" (lớp thực nghiệm TN1 và lớp đối chứng ĐC1) và bài "Luyện tập ancol" áp dụng phương pháp dạy học hợp đồng (lớp thực nghiệm TN2 và lớp đối chứng ĐC2).
- Phân tích kết quả: Tác giả kết hợp phân tích định tính (quan sát thái độ, mức độ tích cực, sự chủ động hợp tác và tự giác thực hiện nhiệm vụ của học sinh) và phân tích định lượng (tổng hợp điểm số bài kiểm tra sau thực nghiệm, lập bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích, đồ thị đường lũy tích và bảng phân loại học lực). Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi ở các lớp thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với các lớp đối chứng, đồng thời đường lũy tích của các lớp thực nghiệm luôn nằm về phía bên phải của lớp đối chứng, chứng minh năng lực tự học và kết quả học tập của học sinh được cải thiện.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả định lượng và thực nghiệm:
- Khảo sát thực trạng chỉ ra các dữ liệu thực tế về khoảng trống tài liệu: 89,47% giáo viên gặp khó khăn trong việc thiết kế bài tập phát triển năng lực; 75,00% đánh giá hệ thống bài tập trên thị trường chưa đầy đủ; chỉ có 9,21% giáo viên thường xuyên sử dụng bài tập tự học. Về phía học sinh, 47,47% gặp trở ngại do bài tập thiếu thông tin dẫn dắt và 46,46% dành dưới 3 giờ mỗi tuần cho việc tự học Hóa học.
- Quá trình thực nghiệm sư phạm tại bài "Anken" và "Luyện tập ancol" đã xác nhận sự khác biệt tích cực về điểm số kiểm tra và mức độ làm chủ kiến thức của nhóm học sinh lớp thực nghiệm (TN1, TN2) so với nhóm đối chứng (ĐC1, ĐC2). Bảng phân phối tần suất lũy tích và kết quả tự đánh giá tiêu chí năng lực tự học của học sinh đều ghi nhận sự tiến bộ.
Về giải pháp và đề xuất sư phạm:
- Khóa luận đã đề xuất quy trình sư phạm đồng bộ gồm biên soạn hệ thống bài tập tự học kèm theo 4 tiêu chí đánh giá năng lực tự học và 04 biện pháp ứng dụng vào các khâu khác nhau của quá trình dạy học (bài mới, vận dụng, luyện tập theo hợp đồng và kiểm tra đánh giá).
- Cung cấp kế hoạch bài dạy chi tiết kèm theo mẫu phiếu hợp đồng học tập (bài "Luyện tập ancol") và hệ thống ma trận đề kiểm tra chuẩn hóa theo định hướng phát triển năng lực.
Đóng góp mới của tác giả:
- So với các công trình nghiên cứu trước đây (thường chỉ phân loại bài tập theo mức độ nhận thức hoặc yêu cầu học sinh dùng kiến thức sẵn có để giải toán), tác giả đã xây dựng các bài tập tự học theo hướng cung cấp dữ liệu dẫn dắt (ngữ liệu bối cảnh, cơ chế phản ứng, dữ liệu phổ, bảng số liệu thực nghiệm) để học sinh tự phân tích, suy luận và tự chiếm lĩnh kiến thức mới.
- Biên soạn trọn vẹn hệ thống bài tập tự học bám sát chương trình Hóa học hữu cơ lớp 11 mới (CT GDPT 2018), cập nhật danh pháp IUPAC quốc tế và các dạng bài tập gắn liền với thực tiễn kỹ thuật - đời sống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi triển khai:
- Địa bàn khảo sát thực trạng diện rộng chủ yếu thực hiện qua hình thức trực tuyến; việc khảo sát thực tế chuyên sâu và thực nghiệm sư phạm chỉ mới giới hạn tại một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (THPT Hoà Vang, THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Phan Châu Trinh).
- Phạm vi kiến thức mới chỉ dừng lại ở 03 chủ đề thuộc phần Hóa học hữu cơ lớp 11; thời lượng thực nghiệm sư phạm mới chỉ thực hiện trên một số tiết dạy cụ thể ("Anken", "Luyện tập ancol") do quỹ thời gian của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân có giới hạn.
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề cập:
- Mở rộng quy trình biên soạn và hệ thống bài tập tự học sang các chủ đề khác của môn Hóa học THPT như phần Hóa học vô cơ lớp 11, các chủ đề Hóa học lớp 10 và lớp 12 theo CT GDPT 2018.
- Mở rộng phạm vi và quy mô thực nghiệm sư phạm tại nhiều cơ sở giáo dục ở các vùng miền khác nhau để hoàn thiện hệ thống tiêu chí tự đánh giá năng lực tự học của học sinh.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị thực tiễn đối với các nhóm đối tượng:
- Sinh viên ngành Sư phạm Hóa học và học viên cao học chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học: Có thể tham khảo cơ sở lý luận về chu trình tự học, phương pháp dạy học hợp đồng, cùng kỹ thuật thiết kế câu hỏi tự học tích hợp dữ liệu dẫn dắt.
- Giáo viên Hóa học tại các trường THPT: Khóa luận cung cấp một ngân hàng bài tập hữu cơ lớp 11 phong phú (phần phụ lục mở rộng hơn 100 trang), hệ thống ma trận đề kiểm tra, cùng hai giáo án thực nghiệm chi tiết (bài "Anken" và "Luyện tập ancol" theo phương pháp dạy học hợp đồng) có thể ứng dụng trực tiếp vào giảng dạy thực tế theo CT GDPT 2018.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả khảo sát thực trạng dạy học và tự học trên những đối tượng cụ thể nào?
Khảo sát thực trạng được thực hiện trên hai nhóm đối tượng: 76 giáo viên bộ môn Hóa học tại các trường THPT thuộc 7 tỉnh, thành phố (Lâm Đồng, Gia Lai, Nghệ An, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Đắk Nông, TP. Hồ Chí Minh) và 198 học sinh tại hai trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng gồm Trường THPT Hoà Vang và Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền.
2. Bốn biện pháp sử dụng hệ thống bài tập tự học được tác giả đề xuất là gì?
Tác giả đề xuất 04 biện pháp: (1) Sử dụng kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực để triển khai bài học mới; (2) Sử dụng trong hoạt động "Vận dụng" của các bài giảng trên lớp; (3) Sử dụng kết hợp với phương pháp dạy học hợp đồng để triển khai các bài luyện tập; (4) Sử dụng trong kiểm tra đánh giá.
3. Cấu trúc một bài tập tự học trong khóa luận được thiết kế như thế nào để hỗ trợ học sinh tự học?
Mỗi bài tập tự học được cấu trúc gồm ba phần rõ ràng: (1) Đề dẫn bài tập chứa đựng dữ kiện thực tế, bối cảnh khoa học hoặc câu hỏi phân hóa theo 4 mức độ nhận thức; (2) "Yêu cầu tự học của học sinh" cung cấp định hướng tư duy, phân tích cơ chế, các bước giải mẫu để học sinh tự kiểm tra; (3) "Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh qua bài tập" quy chiếu bài tập vào 4 tiêu chí phát triển năng lực tự học (TC1 đến TC4).
4. Nghiên cứu thực nghiệm sư phạm được tiến hành trên những nội dung bài học nào?
Thực nghiệm sư phạm được triển khai tại hai nội dung: bài dạy kiến thức mới "Anken" (áp dụng bài tập tự học kết hợp giải quyết vấn đề trên cặp lớp TN1 - ĐC1) và bài "Luyện tập ancol" (áp dụng bài tập tự học trong mô hình dạy học hợp đồng với các nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn trên cặp lớp TN2 - ĐC2).
5. Điểm mới về mặt xây dựng nội dung bài tập của đề tài so với các nghiên cứu trước đó là gì?
Thay vì chỉ yêu cầu học sinh sử dụng lại các công thức, kiến thức đã học trên lớp để giải các bài toán hóa học thuần túy, bài tập của đề tài cung cấp các ngữ liệu thông tin mới (dữ liệu cơ chế phản ứng gốc tự do, dữ liệu thực nghiệm nhiệt động hóa học, tín hiệu phổ khối lượng EI-MS, mô hình cấu trúc không gian) kèm theo chỉ dẫn sư phạm để học sinh tự đọc hiểu, tự phân tích và tự chiếm lĩnh tri thức.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Tạ Hoàng Phúc đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực tự chủ và tự học, đồng thời khảo sát toàn diện thực trạng dạy và tự học môn Hóa học tại trường THPT trong bối cảnh triển khai CT GDPT 2018. Đề tài đã xây dựng thành công hệ thống bài tập tự học cho 03 chủ đề Hóa học hữu cơ lớp 11 gắn liền với 4 mức độ nhận thức, 4 tiêu chí năng lực và đề xuất 04 biện pháp sư phạm ứng dụng vào giảng dạy thực tế. Kết quả khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi, hiệu quả của hệ thống bài tập trong việc nâng cao kết quả học tập và bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh phổ thông.