mở đầu chuỗi cung ứng. Thứ hai là khách hàng của khách hàng (khách hàng cuối cùng) được biết đến như điểm kết thúc chuỗi cung ứng. Cuối cùng sự tham gia của các công ty cung cấp dịch vụ như: hậu cần, tài chính, tiếp thị và công nghệ thông tin. Mô hình chuỗi cung ứng (Nguồn: Tài liệu hướng dẫn học tập quản lý chuỗi cung ứng, Nguyễn Kim Anh, 2006) 1.
Nhà sản xuất Nhà sản xuất đóng vai trò là đơn vị sản xuất ra sản phẩm. Sản phẩm của nhà sản xuất này có thể là nguyên liệu đầu vào cho một nhà sản xuất khác nhằm tạo ra 6 thành phẩm cuối cùng. Nhà phân phối Nhà phân phối là đơn vị phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng hoặc các đơn vị kinh doanh khác. Đặc điểm dễ nhận biết của chủ thể này đó là nhà phân phối thường tồn trữ hàng với khối lượng lớn để đảm bảo tính liên tục của chuỗi cung ứng khi có sự biến động cung hoặc cầu trên thị trường.
Một nhà phân phối điển hình sẽ thực các chức năng chính như: quản lý tồn kho, vận hành, bán hàng và chăm sóc khách hàng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhà phân phối chỉ đóng vai trò như đại diện bán hàng cho nhà sản xuất. Những nhà phân phối này không sở hữu hàng hóa mà chỉ chủ yếu thực hiện chức năng khuyến mãi và bán hàng. Nhà bán lẻ So với nhà phân phối thì lượng hàng tồn kho của nhà bán lẻ ít hơn và họ chủ yếu phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng.
Với mục tiêu là thúc đẩy tối đa lượng hàng hóa bán ra, các nhà bán lẻ thường sử dụng các biện pháp marketing cũng như sử dụng một số kỹ thuật khác để kích cầu. Khách hàng Khách hàng có thể là có người tiêu dùng cuối cùng hoặc có thể là một tổ chức mua sản phẩm để làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm khác rồi bán chúng cho khách hàng. Nhà cung cấp dịch vụ Nhà cung cấp dịch vụ là những tổ chức cung cấp dịch vụ chuyên môn đặc biệt cho các chủ thể khác trong chuỗi cung ứng như: thiết kế sản phẩm, nghiên cứu thị trường. Trong tất cả các loại hình dịch vụ này, vận tải và kho bãi là hai dịch vụ phổ biến nhất trong mọi chuỗi cung ứng.
CÁC MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG CƠ BẢN Đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và tối thiểu hóa chi phí hoạt động là hai mục tiêu tiên quyết của một doanh nghiệp, do đó, có thể thấy lựa chọn mô hình chuỗi cung ứng phù hợp là một quyết định hết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Bởi lẽ, hai mục tiêu này thường mâu thuẫn nhau, để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp phải tăng lượng hàng tồn kho, điều đó làm phát 7 sinh các chi phí. Ngược lại, nếu doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa chi phí đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải cắt giảm lượng hàng tồn kho, thì khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng sẽ giảm xuống. Do đó, việc xây dựng một mô hình chuỗi cung ứng hiệu quả có thể giúp doanh nghiệp cân bằng hai mục tiêu này.
Chuỗi cung ứng được chia làm hai loại chính dựa trên cách thức mà sản phẩm được đưa vào thị trường, đó là chuỗi cung ứng kéo và chuỗi cung ứng đẩy. Mỗi mô hình chuỗi cung ứng sẽ có những ưu điểm và nhược điểm riêng, chính vì vậy thời gian gần đây nhiều doanh nghiệp đã vận dụng linh hoạt hai mô hình nói trên, tạo thành mô hình chuỗi cung ứng kéo-đẩy. Mô hình này đã giúp hạn chế những yếu điểm và phát huy những lợi thế của hai mô hình trên. Mô hình chuỗi cung ứng kéo Trong một chuỗi cung ứng kéo, nhu cầu thực tế của thị trường là yếu tố định hướng cho quá trình sản xuất.
Nói cách khác hàng hóa chỉ được sản xuất khi có đơn hàng, mô hình này gắn liền với chiến lược “Just-in-time” trong quản lý hàng tồn kho. Do nhu cầu giảm thiểu chi phí của các doanh nghiệp, chuỗi cung ứng kéo dần trở nên thịnh hành hơn từ những năm 1970. Mô hình sản xuất kéo sử dụng một hệ thống kéo, một phương pháp để kiểm soát dòng chảy của các nguồn lực thông qua một hệ thống. Các nguồn lực chỉ được đưa vào quy trình sản xuất khi chúng thực sự cần thiết hoặc được yêu cầu.
Bên cạnh đó thì có một định nghĩa khác về mô hình sản xuất kéo được hiểu là hoạt động tối ưu sản xuất kéo, một phương pháp để kiểm soát dòng tài nguyên thông qua một hệ thống. Trong quá trình mô hình sản xuất kéo, đơn đặt hàng của khách hàng kích hoạt việc mua nguyên vật liệu và lên lịch sản xuất cho các mặt hàng được yêu cầu. Mô hình chuỗi cung ứng (Nguồn: Website Saga.vn) Mô hình chuỗi cung ứng kéo được sử dụng bởi những ưu điểm nổi bật như: • Do đặc tính sản xuất theo đơn hàng và cấu trúc linh hoạt nên đây là một mô hình giúp hạn chế rủi ro. • Đồng thời, giúp giảm mức tồn kho trên toàn hệ thống giúp tiết kiệm chi phí và sử dụng nguồn lực hiệu quả.
Tuy nhiên, chuỗi cung ứng này vẫn tồn tại một số hạn chế sau đây: • Trong trường hợp khối lượng đơn hàng lớn, thời gian dặt hàng ngắn doanh nghiệp sẽ không có đủ lượng dữ trự để đáp kịp thời nhu cầu của khách hàng. • Trong trường hợp đơn đặt hàng nhỏ doanh nghiệp sẽ không tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô. Mô hình chuỗi cung ứng đẩy Trong mô hình chuỗi cung ứng đẩy luồng thông tin sẽ đi cùng hướng với quá trình cung cấp sản phẩm. Hệ thống đẩy sẽ đi theo chiều thuận, tức là dự báo được lượng và nhu cầu tiêu thụ và khả năng cung ứng được số lượng sản phẩm có thể sản xuất để xác định mức hàng hóa sản xuất ra, và lưu trữ sẵn trong kho hoặc đẩy sản phẩm ra thị trường.
Để thực hiện được điều này, thì chiến lược này căn cứ vào khả năng giới thiệu và PR cho sản phẩm như thế nào để kích thích người mua biết đến sản phẩm và có thêm nhu cầu mua sản phẩm đó. Ngược lại với mô hình chuỗi cung ứng kéo, mô hình chuỗi cung ứng đẩy 9 không hoạt động dựa trên nhu cầu thực sự của thị trường mà dựa trên nhu cầu dự đoán. Cụ thể, trong loại mô hình này, thị trường tiêu thị được tìm kiếm đồng thời với quá trình sản xuất sản phẩm. Nói cách khác, sản phẩm trong mô hình phân phối này thường tồn tại dưới dạng hàng tồn kho.
Ví dụ cho chuỗi cung ứng đẩy có thể kể đến như những doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo, nước ngọt…sau khi sản xuất sẽ đẩy sản phẩm đến cho các đại lý, cửa hàng để từ đó bán cho người tiêu dùng. Hiệu ứng Bullwhip là hiện tượng dễ xảy ra trong chuỗi này: một thay đổi nhỏ trong nhu cầu ở khâu bên dưới của chuỗi cung ứng có thể gây ra một sự thay đổi rất lớn ở khâu bên trên. Nguyên nhân là bởi tính tiếp nối của các đơn hàng khi có sự chậm trễ trong việc đáp ứng yêu cầu khách hàng, tính phóng đại và nhiễu loạn của thông tin khi được chuyển tải qua nhiều chặng nối tiếp. Do ảnh hưởng của Bullwhip, hàng tồn kho có thể nhanh chóng chuyển từ trạng thái thiếu hàng sang thừa hàng.
Mô hình chuỗi cung ứng đẩy (Nguồn: Website Saga.vn) Ưu điểm dễ nhận thấy của mô hình chuỗi cung ứng đẩy đó là: nếu sản phẩm đúng thị hiếu tiêu dùng và có mức cầu lớn, doanh nghiệp sẽ chủ động trong việc cung ứng hàng hóa kịp thời nhờ vào lượng hàng tồn kho. Tuy nhiên, với những doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm trong việc dự báo thị trường nên cân nhắc khi sử dụng mô hình này vì sau khi sản xuất nếu sản phẩm không được thị trường chấp nhận sẽ dẫn đến hiện tượng ứ đọng hàng hóa, tình trạng tồn kho tăng cao. Nhìn chung, do thị trường và nhu cầu luôn biến đổi không ngừng nên khả năng bắt kịp những thay đổi này của các doanh nghiệp theo đuổi mô hình chuỗi cung ứng đẩy là tương đối thấp. Có thể nói, đây là một mô hình chứa khá 10 nhiều rủi ro cho doanh nghiệp.
Mô hình chuỗi cung ứng kéo-đẩy Trong chiến lược kéo-đẩy, các doanh nghiệp sẽ kết hợp linh hoạt giữa mô hình chuỗi cung ứng kéo và mô hình chuỗi cung ứng đẩy ở giai đoạn khác nhau. Việc chuyển từ sử dụng mô hình chuỗi cung ứng đẩy sang mô hình chuỗi cung ứng kéo hoặc ngoặc lại sẽ làm xuất hiện một ranh giới, gọi là ranh giới kéo đẩy. Mô hình chuỗi cung ứng kéo-đẩy (Nguồn: website của Council of Supply Chain Managent Professionals) Xét trong điều kiện chỉ có độ ổn định của nhu cầu khách hàng là biến số duy nhất biến động, khi độ ổn định càng thấp thì doanh nghiệp có xu hướng quản lý chuỗi cung ứng dựa trên nhu cầu thực tế. Nói cách khác, doanh nghiệp nên ứng dụng chuỗi cung ứng kéo vào giai đoạn này.
Ngược lại, nếu độ ổn định của nhu cầu cao thì mô hình chuỗi cung ứng đẩy nên được ưu tiên. Với sự vận dụng phù hợp hai mô hình chuỗi cung ứng kéo và đẩy vào từng giai đoạn như vậy, sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro khi sự biến động thị trường lớn đồng thời cũng giúp doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng khi cầu thị trường ổn định và lớn. 11 Chuỗi cung ứng của Dell là một minh chứng điển hình cho việc sử dụng mô hình kéo đẩy thành công. Từ năm 2007, dell incorporated bắt đầu sử dụng kết mô hình chuỗi cung ứng kéo-đẩy.
Ở giai đoạn đầu của chuỗi cung ứng, Dell sử chiến lược đẩy, cụ thể, doanh nghiệp này dự báo nhu cầu linh kiện điện tử cần cho quá trình sản xuất và tiến hành tồn kho theo dự báo. Và ở giai đoạn lắp ráp, doanh nghiệp này đã sử dụng chiến lược kéo, tức là chỉ tiến hành lắp ráp sản phẩm khi có đơn hàng. CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG CHUỖI CUNG ỨNG Hình 1. Các hoạt động trong chuỗi cung ứng (Nguồn: website của Supply Chain Council Inc) Dựa trên mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng (SCOR), một mô hình được xem là chuẩn mực đầu tiên về chuỗi cung ứng và đến nay vẫn được đa số các doanh nghiệp áp dụng để xây dựng và định hình chuỗi cung ứng thì một chuỗi cung ứng cơ bản sẽ bao gồm các hoạt động sau: 1.