Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LUẬT CẠNH TRANH 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRÊN THẾ GIỚI 1. Khái niệm cạnh tranh Về khái niệm cạnh tranh, có rất nhiều cách hiểu khác nhau xuất phát từ phạm vi sử dụng: phạm vi quốc gia, phạm vi liên quốc gia, phạm vi ngành, phạm vi doanh nghiệp. Trong phạm vi quốc gia Cạnh tranh đối với một quốc giá là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó (theo Ủy ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ).
Như vậy, trong phạm vi quốc gia, mục tiêu của cạnh tranh là nâng cao mức sống, thu nhập và phúc lợi cho nhân dân. Trong phạm vi liên quốc gia Cạnh tranh được hiểu là "khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian" [7, tr. Trong phạm vi doanh nghiệp và phạm vi ngành Theo K. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [Dẫn theo 25, tr.
Khái niệm cạnh tranh của K. Marx gắn liền với sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa. Marx, quy luật cơ bản của cạnh tranh 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường.Nordhaus - hai nhà kinh tế học Mỹ trong cuốn Kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Cùng quan điểm xem cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo như P.
Dornbusch - người Mỹ cho rằng: cạnh tranh hoàn hảo, là ngành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua.L Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vĩ mô viết rằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người mua và người bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhất nào có ảnh hưởng có ý nghĩa đối với giá cả Theo Từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992 "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình" [17, tr. Từ điển Tiếng Việt "Bách khoa tri thức phổ thông" của Việt Nam cũng giải thích cạnh tranh là sự ganh đua giữa những nhà sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất [1, tr. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên, tựu chung lại muốn có cạnh tranh, phải hội tụ tối thiếu các yếu tố sau: Về chủ thể: Tham gia cạnh tranh phải có nhiều chủ thể. Các chủ thể này cùng nhằm tới một mục tiêu, có nghĩa cùng chung kết quả cần đạt được.
Về môi trường cạnh tranh: Hành vi cạnh tranh của các chủ thể được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh nhất định, được điều chỉnh bởi các 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính sách cạnh tranh, quy luật cạnh tranh, quy phạm pháp luật về cạnh tranh và thông lệ kinh doanh nói chung. Về phạm vi: Cạnh tranh có thể diễn ra trên phạm vi rộng (diễn ra giữa các quốc gia, các khu vực) hoặc diễn ra trong phạm vi hẹp (diễn ra trong một ngành, một địa phương). Về thời gian: Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian dài (trong suốt quá trình tồn tại, hoạt động của một chủ thể) nhưng cũng có thể diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (trong một giai đoạn hoạt động nhất định của chủ thể). Như vậy, xem xét ở góc độ chủ thể của hành vi thì cạnh tranh được coi là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng.
Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội, thì cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ưu, do đó là động lực bên trong của nền kinh tế phát triển. Do vậy, cạnh tranh vừa mang bản chất kinh tế vừa mang bản chất xã hội. Việc doanh nghiệp nỗ lực để xây dựng cho mình một ưu thế chi phối thị trường vì mục tiêu lợi nhuận là biểu hiện bản chất kinh tế của cạnh tranh. Uy tín của mỗi chủ thể cạnh tranh trong mối quan hệ với người tiêu dùng, với các đối thủ cạnh tranh khác và người lao động là biểu hiện bản chất xã hội của cạnh tranh.
Về hình thái của cạnh tranh, nếu xét theo cơ cấ u doanh nghiê ̣p và mức đô ̣ tâ ̣p trung trong mô ̣t ngành , lĩnh vực kinh tế , cạnh tranh trên thị trường được phân chia thành cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnh tranh không hoàn hảo; nếu căn cứ vào mu ̣c đić h và tiń h chấ t của các phương thức ca ̣nh tranh , cạnh tranh được phân chia thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Lịch sử hình thành của pháp luật cạnh tranh Nhu cầu của nền kinh tế đã thúc đẩy Luật Cạnh tranh ra đời ở các nước cũng như thúc đẩy quá trình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật Cạnh 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tranh để phù hợp với thực tiễn. Luật Cạnh tranh mặc dù tồn tại với nhiều tên gọi khác nhau: Luật Cạnh tranh - Competition Law, Luật chống hạn chế cạnh tranh, Luật chống độc quyền - Anti monopoly Act, Luật thương mại lành mạnh - Fair Trade Law … nhưng tất cả đều có chung một mục đích là tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đằng giữa các chủ thể, duy trì sự cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng. Pháp luật cạnh tranh ra đời sớm nhất ở Mỹ vào năm 1890 với tên gọi là Luật chống độc quyền - Sherman Anti-Trust Act.
Ngay khi ra đời, Luật Sherman đã trở thành công cụ để điều chỉnh các thỏa thuận gây hạn chế thương mại và cấm việc sử dụng các biện pháp phản cạnh tranh hoặc lạm dụng vị trí độc quyền nhằm giành được vị thế độc quyền. Luật Sherman có thể được thực thi như Luật dân sự hoặc như Luật hình sự. Các hành vi như: ấn định giá tạm thời, thông đồng để thắng thầu sẽ bị truy tố hình sự. Sau 24 năm kể từ khi Luật Sherman ra đời, vào năm 1914, hai bộ luật Liên bang nữa đã được thông qua là Luật Clayton và Luật Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC).
Hiện nay, hầu hết các Bang của Mỹ đã thông qua Luật của bang mình, tuy nhiên, tất cả đều dựa trên nội dung nền tảng từ Luật Sherman và Luật FTC. Ở Đức Luật chống hạn chế cạnh tranh, viết tắt là ARC có hiệu lực vào năm 1958. Tính đến nay, Luật đã được sửa đổi, bổ sung 7 lần. Lần sửa đổi cuối cùng có hiệu lực vào tháng 07/2005.
Luật Cạnh tranh kinh tế (Economic Competition Act) của Hà Lan ra đời vào năm 1956. Sau đó vào năm 1997, Hà Lan đã ban hành Luật Cạnh tranh mới thay thế cho Luật 1956. Qua nhiều lần sửa đổi, hiện tại, Hà Lan đang áp dụng Luật Cạnh tranh được sửa đổi vào năm 2004. Luật Thương mại lành mạnh được ra đời ở Anh vào năm 1973.
Sau hơn 20 năm thi hành, ngày 09/11/1998, Anh đã ban hành Luật Cạnh tranh để sửa đổi Luật Thương mại lành mạnh 1973 với việc quy định thêm các điều khoản cấm hành vi phản cạnh tranh. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để bảo đảm quyền tự do kinh doanh và làm cho pháp luật của Italia phù hợp với luật lệ của Cộng đồng Châu Âu, Italia đã ban hành Luật Cạnh tranh và thương mại công bằng năm 1990 và pháp luật chống độc quyền quốc gia vào năm 2004. Trong lịch sử hình thành và phát triển của Luật Cạnh tranh Châu Âu, đáng chú ý, quy định nhằm bảo vệ cạnh tranh lành mạnh đã tồn tại trong hiệp ước thành Rome - hiệp ước để thành lập cộng đồng kinh tế chung Châu Âu, được ký ngày 27 tháng 5 năm 1957 bởi các quốc gia Pháp, Tây Đức, I-ta-li-a, Bỉ, Ni-zơ-lan, và Lúc-xem-bua. Những điều khoản này đã được phát triển và được luật hóa để trở thành một bộ Luật Cạnh tranh được ra đời vào những năm 1970.
Hầu hết Luật Cạnh tranh của các nước Châu Âu đều được phát triển theo hướng phù hợp với các quy định chung của Luật Cạnh tranh Châu Âu. Với sự gia nhập của nhiều quốc gia mới vào khối EU. Đến năm 2004 một sự cải cách quan trọng nhất đối với Luật Cạnh tranh Châu Âu đã được tiến hành theo đó yêu cầu tất cả các thành viên của EU phải đồng nhất sửa đổi và áp dụng nguyên tắc phối hợp chung giữa các thành viên để tạo ra một hệ thống Luật Cạnh tranh áp dụng chung cho tất cả các thành viên EU, và do vậy lần đầu tiên tất cả các thành viên EU được yêu cầu áp dụng một hệ thống Luật Cạnh tranh chung cho các hành vi vi phạm xảy ra tại khu vực này. Ở Châu Á, sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, hầu hết các nước ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á đã ban hành Luật Cạnh tranh trước yêu cầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Tại Hàn Quốc, Ủy ban Công bằng Thương mại Hàn Quốc đã ban hành Luật công bằng thương mại và kiểm soát độc quyền năm 1980 và sửa đổi, bổ sung vào các năm 1986, 1990, 1992, 1994, 1996, 1998, 1999. Tại Đài Loan, Luật chống cạnh tranh không lành mạnh được Ủy ban Công bằng Thương mại Đài Loan ban hành năm 1991. Cơ quan Phát triển Quốc gia của Mông Cổ ban hành Luật chống cạnh tranh không lành mạnh năm 1993. Tại Trung Quốc, Luật chống cạnh tranh không 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.