Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thanh Huyền, sinh viên Khoa Công nghệ sinh học thuộc Viện Đại học Mở Hà Nội, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên Hoàng Đình Hòa và hoàn thành vào ngày 17 tháng 5 năm 2016. Đề tài tập trung vào việc tìm hiểu và phân tích hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty may thời trang Bảy Tốt.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ bối cảnh kinh tế thực tiễn của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đặc biệt là dấu mốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 07 tháng 11 năm 2006. Tác giả chỉ rõ ngành dệt may là một trong những mặt hàng mũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam nhờ đặc thù đòi hỏi vốn ít, sử dụng lượng lớn lao động dồi dào với chi phí nhân công hợp lý, ít gặp rủi ro và góp phần giải quyết việc làm cho xã hội. Tuy nhiên, trước sức ép cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, các doanh nghiệp dệt may buộc phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tối ưu hóa năng lực quản lý nguồn nhân lực và tài sản. Việc áp dụng các công cụ quản lý chất lượng quốc tế, cụ thể là bộ tiêu chuẩn ISO 9000, trở thành yêu cầu thiết yếu nhằm giảm thiểu sai hỏng, loại bỏ lãng phí và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường xuất khẩu.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể qua các nội dung sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất lượng và kết cấu của bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 cùng các bước áp dụng trong doanh nghiệp.
  2. Tìm hiểu lịch sử hình thành, mô hình tổ chức bộ máy, năng lực sản xuất và ngành nghề kinh doanh của Công ty may thời trang Bảy Tốt.
  3. Khảo sát và phân tích hệ thống văn bản tác nghiệp, chức năng, nhiệm vụ và các quy trình công tác tại từng phòng ban chức năng của doanh nghiệp.
  4. Mô tả chi tiết quá trình tạo ra sản phẩm, trọng tâm là các quy trình kỹ thuật kiểm soát, thử nghiệm và đánh giá chất lượng nguyên phụ liệu đầu vào (vải dệt kim, dựng, mex) trước khi đưa vào sản xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 và hệ thống văn bản quy trình điều hành tác nghiệp tại doanh nghiệp may mặc.
  • Phạm vi không gian: Công ty may thời trang Bảy Tốt, địa chỉ tại số 12 đường Thanh Niên, thành phố Nam Định, bao gồm hệ thống 3 nhà máy sản xuất trực thuộc.
  • Phạm vi thời gian: Các dữ liệu lịch sử hoạt động của doanh nghiệp từ năm 1997 đến thời điểm thực tập năm 2016, trong đó số liệu sản xuất kinh doanh phản ánh giai đoạn 9 tháng đầu năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý chất lượng hiện đại và hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO do Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (International Organization for Standardization) ban hành. Về mặt lịch sử, tác giả truy xuất nguồn gốc của tiêu chuẩn này từ các tiêu chuẩn chất lượng trong lĩnh vực quân sự như MIL-Q-9058A của Mỹ, AQQP1 của khối NATO, tiêu chuẩn dân sự BS 5750 của Viện Tiêu chuẩn Anh (BSI) năm 1979, trước khi Ban Kỹ thuật TC 176 của ISO chính thức soạn thảo và ban hành bộ tiêu chuẩn ISO 9000 qua các phiên bản 1987, 1994, 2000, 2007 và 2008.

Khung tiêu chuẩn được tác giả viện dẫn chi tiết bao gồm:

  • ISO 9000:2000 và ISO 9000:2007: Hệ thống quản lý chất lượng – Cơ sở và từ vựng.
  • ISO 9001:2000 và ISO 9000:2008 (thực tế là ISO 9001:2008): Hệ thống quản lý chất lượng – Các yêu cầu.
  • ISO 9004:2000 và ISO 9004: Hệ thống quản lý chất lượng – Hướng dẫn cải tiến hiệu quả hoạt động.
  • ISO 19011 (hoặc ISO 190011): Hướng dẫn đánh giá hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống quản lý môi trường.

Về mặt triết lý, tác giả phân tích quan điểm tiếp cận của ISO 9000 dựa trên mối quan hệ nhân quả giữa chất lượng quản trị và chất lượng sản phẩm; lấy phương châm phòng ngừa và "làm đúng ngay từ đầu" làm trọng tâm; loại trừ các lãng phí và chi phí ẩn trong quá trình vận hành; đồng thời chuẩn hóa hành vi quản lý qua 4 nguyên tắc văn bản hóa:

  • Viết những gì cần phải làm (mô tả thủ tục, quy trình, hướng dẫn công việc).
  • Làm những gì đã viết (thực hiện theo đúng quy trình ban hành).
  • Đánh giá những gì đã làm (đối chiếu hoạt động thực tế với văn bản quy định).
  • Điều chỉnh những khác biệt (đề ra biện pháp khắc phục, phòng ngừa).

Phương pháp nghiên cứu trong khóa luận là sự kết hợp giữa nghiên cứu mô tả lý thuyết và khảo sát thực địa tại cơ sở sản xuất:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hóa quy trình xây dựng tiêu chuẩn quốc tế 5 bước của ISO (Đề nghị, Chuẩn bị, Thảo luận, Phê chuẩn, Công bố) và quy trình 8-9 bước áp dụng ISO tại doanh nghiệp.
  • Phương pháp khảo sát, mô tả quy trình tổ chức: Khảo sát thực tế cơ cấu tổ chức, sơ đồ quản lý, phân công chức năng tại Ban Giám đốc và 4 phòng ban nghiệp vụ (Kinh doanh - Xuất nhập khẩu, Kế toán, Tổ chức - Hành chính, Kỹ thuật).
  • Phương pháp kiểm tra kỹ thuật và lấy mẫu thống kê: Áp dụng phương thức tính điểm lỗi ngoại quan trên diện tích và chiều dài vải (chia mức độ I, II, III); quy tắc lấy mẫu xác suất 10% đối với vải dệt kim nhập kho; tỷ lệ lấy mẫu 5% đối với dựng và mex; phương pháp thực nghiệm kiểm tra độ bám dính của mex qua xử lý nhiệt và chu trình giặt mẫu trong máy giặt ở nhiệt độ 40°C có xà phòng trong thời gian 45 phút qua 3 chu kỳ lặp lại.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong văn bản gồm dữ liệu thứ cấp từ tài liệu ISO, hồ sơ quản lý nội bộ, báo cáo tài chính - lao động của Công ty may Bảy Tốt và dữ liệu sơ cấp thu thập qua quan sát thực tế tại các xưởng may, kho nguyên phụ liệu trong thời gian tác giả thực tập.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Quản lý chất lượng và hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000

Chương này tập trung trình bày các khái niệm nền tảng về chất lượng và hệ thống quản lý chất lượng, đồng thời làm rõ vai trò của công tác quản lý chất lượng đối với nền kinh tế xã hội và người tiêu dùng. Quản lý chất lượng không phải là việc kiểm tra từng sản phẩm đơn lẻ mà là hệ thống kiểm soát toàn diện các yếu tố gồm cơ cấu tổ chức, các quá trình, quy tắc tác nghiệp và nguồn lực.

Tác giả phân tích chi tiết quy trình ban hành tiêu chuẩn của ISO gồm 5 bước kỹ thuật. Đồng thời, chương này khái quát tiến trình 8 bước áp dụng ISO 9000 trong một tổ chức kinh tế: từ tìm hiểu tiêu chuẩn, lập ban chỉ đạo, đánh giá thực trạng, thiết kế và lập văn bản, áp dụng thực tế, đánh giá nội bộ, đánh giá chứng nhận của bên thứ ba, cho đến giai đoạn duy trì và cải tiến sau chứng nhận.

Về tình hình thực tiễn, tác giả nêu rõ Việt Nam gia nhập ISO từ năm 1977 thông qua đại diện là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng. Doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu tiếp cận bộ tiêu chuẩn này từ những năm 1995–1996; đến thời điểm tác giả khảo sát, cả nước đã có hơn 3.000 tổ chức, doanh nghiệp được cấp chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000.

Phần II: Những nội dung cơ bản của hệ thống văn bản để thực hiện ISO 9000

Chương này là nội dung trọng tâm của khóa luận, mô tả toàn diện về Công ty may thời trang Bảy Tốt và hệ thống văn bản vận hành theo chuẩn ISO 9000.

Công ty có tiền thân là Xí nghiệp may xuất khẩu Nam Định thành lập ngày 19/5/1997, chuyển đổi doanh nghiệp năm 2002 và hoạt động theo hình thức công ty tư nhân từ năm 2003 dưới sự đại diện pháp luật của ông Phan Duy Thạnh. Vốn điều lệ của công ty được ghi nhận là 31.000 (đơn vị ghi trong báo cáo). Công ty đã đạt được nhiều giải thưởng: Cúp bạc Giải thưởng Chất lượng Việt Nam (1999, 2000), Bằng khen của Bộ Thương mại (1999, 2001), Chứng nhận Hàng Việt Nam chất lượng cao (2004), Huân chương Lao động hạng Nhất (2000) và Huân chương Lao động hạng Nhì (2008).

Quy mô cơ sở vật chất của công ty gồm 3 nhà máy với tổng diện tích mặt bằng hơn 36.000 m², trang bị hơn 1.500 máy may chuyên dụng và 4 dàn máy thêu vi tính. Lực lượng lao động tăng từ 750 người (tháng 8/2002) lên hơn 2.400 người. Cơ cấu diện tích mặt bằng và nhân sự giữa các nhà máy được thống kê cụ thể trong các bảng sau:

Hạng mục diện tích mặt bằng Nhà máy 1 Nhà máy 2 Nhà máy 3
Diện tích văn phòng 600 m² 400 m² 900 m²
Kho chứa nguyên phụ liệu 1.200 m² 400 m² 3.400 m²
Kho chứa thành phẩm 1.800 m² 200 m² 3.200 m²
Khu vực cắt 1.200 m² 400 m² 2.000 m²
Khu vực may 2.400 m² 1.200 m² 3.300 m²
Khu vực khác 1.200 m² 800 m² 11.800 m²
Tổng diện tích toàn bộ nhà xưởng 8.400 m² 3.400 m² 24.600 m²
Bộ phận chức danh nhân sự Nhà máy 1 Nhà máy 2 Nhà máy 3
Nhân viên quảng cáo 13 03 03
Nhân viên văn phòng 117 13 76
Công nhân tại kho hàng 15 05 17
Thiết kế mẫu / Sao mẫu / May mẫu 18 10 00
Định mức lao động / Kỹ thuật thêu, in / Định mức vật tư 07 03 00
Nhân viên kiểm tra nguyên phụ liệu 05 02 00
Quản đốc 14 06 20
Cắt mẫu cứng / Công nhân cắt 53 43 03
Công nhân may 495 287 760
Công nhân là gấp / Đóng gói 98 79 00
Nhân viên kiểm tra hoàn tất 45 14 60
Công nhân thêu / Thợ máy 42 12 15
Tổng cộng nhân sự theo nhà máy 922 332 1.099

Về sản phẩm, công ty chuyên sản xuất các mặt hàng dệt kim như áo T-shirt, Polo-shirt, áo khoác bằng vải Polar Fleece, vải Sherpa Knit, đồ thể thao bằng vải French Terry, vải Tricot; ngoài ra còn có sơ mi, quần âu, áo tắm và hàng không thấm nước. Thị trường xuất khẩu chính gồm EU, Canada, Đức, Tiệp, Đài Loan, Nhật Bản và đặc biệt là Mỹ. Năng suất tháng đạt 250.000 sản phẩm sơ mi và dệt kim; 225.000 sản phẩm quần; 100.000 sản phẩm áo tắm; 100.000 bộ đồ thể thao. Kết quả sản xuất kinh doanh 9 tháng đầu năm 2016 ghi nhận: sản lượng xuất khẩu đạt 769.000 sản phẩm (tăng 380% so với cùng kỳ năm trước), kim ngạch xuất khẩu đạt 3.000 USD, doanh thu 7.000 VNĐ và lương bình quân 1.000 VNĐ/tháng (số liệu phản ánh nguyên văn theo báo cáo của tác giả).

Tác giả hệ thống hóa các quy trình văn bản của các phòng ban:

  • Ban Giám đốc: Điều hành chung thông qua các cuộc họp định kỳ hàng tháng có lập biên bản, ban hành quyết định quản lý bằng văn bản.
  • Phòng Kinh doanh - Xuất nhập khẩu: Thực hiện 3 quy trình chính gồm Lập và triển khai kế hoạch kinh doanh (5 bước), Lập kế hoạch xuất nhập khẩu (4 bước), Lên kế hoạch nhập nguyên phụ liệu.
  • Phòng Kế toán: Tổ chức theo mô hình gồm Kế toán trưởng, Kế toán tổng hợp, Kế toán thanh toán, Kế toán công nợ, Kế toán lương và BHXH, Thủ quỹ. Thực hiện các quy trình quản lý tài chính, quy trình tham mưu cho ban giám đốc và quy trình thanh toán tiền lương qua tài khoản ngân hàng trong 2 ngày cuối tháng.
  • Phòng Tổ chức - Hành chính: Phụ trách quản lý nhân sự, chế độ tiền lương và vệ sinh công nghiệp. Văn bản hóa quy trình báo cáo biến động nhân sự hàng tháng (3 bước), quy trình tuyển dụng nhân viên (12 bước, thời gian thử việc 02 tháng với mức lương thử việc 3 triệu đồng/tháng), quy trình đào tạo nhân sự (6 bước, thông báo trước 15 ngày).
  • Phòng Kỹ thuật: Tham mưu công tác công nghệ, định mức kỹ thuật, thiết kế chuyền may và may mẫu thử nghiệm.

Về quá trình tạo ra sản phẩm, tác giả phân tích chi tiết công tác kiểm tra nguyên phụ liệu tại kho. Kho nguyên phụ liệu được chia thành 3 tổ: tổ tiếp nhận, tổ kiểm tra và tổ cấp phát; sổ sách kho báo cáo định kỳ 6 tháng một lần. Nguyên liệu vải được kiểm tra 100% số cuộn bằng máy kiểm vải khổ rộng gắn trục rulo và đồng hồ đo chiều dài. Việc lấy mẫu vải dệt kim thực hiện ngẫu nhiên theo tỷ lệ 10% (10 cuộn lấy 1 cuộn). Nếu không đạt, lấy tiếp 10% tiếp theo. Đánh giá chất lượng dựa trên thang điểm lỗi:

Nhóm lỗi trên vải dệt kim Mức độ I (0,5 điểm) Mức độ II (1,0 điểm) Mức độ III (2,0 điểm)
Lỗi dọc cuộn vải (loang màu, ố vàng, vàng biên) Cứ mỗi 30 cm Cứ mỗi 30 cm Cứ mỗi 30 cm
Lỗi theo diện tích (dỗ lốm đốm, thủng, rách, lỗi sợi, bỏ mũi) Kích thước 0,5 - 1 cm² Kích thước 1 - 3 cm² Kích thước > 3 cm²
Lỗi do tẩy trắng hoặc nhuộm màu Lệch màu so với màu chuẩn: đánh giá không đạt, báo khách hàng - -

Tiêu chuẩn phân loại một cây vải dệt kim khối lượng chuẩn 20 - 23 kg:

  • Loại 1 (0 – 25 điểm): Đủ điều kiện đưa vào sản xuất.
  • Loại 2 (25,1 – 35 điểm): Phải thỏa thuận lại với khách hàng.
  • Loại 3 (trên 35 điểm): Trả lại khách hàng hoặc nhà cung cấp.
  • Dung sai khối lượng: Nếu cuộn vải nằm ngoài khoảng 20 - 23 kg, khung điểm quy định được điều chỉnh trong phạm vi (-5; +5) điểm. Toàn bộ lô vải đạt yêu cầu nếu có từ 90% số mẫu kiểm tra đạt tiêu chuẩn.

Đối với dựng và mex, tỷ lệ lấy mẫu kiểm tra là 5% ngẫu nhiên theo từng 10 đơn vị. Khổ rộng được kiểm tra định kỳ 5 m một lần trên bàn cắt hoặc máy đo. Màu sắc kiểm tra dưới ánh sáng Galuk. Độ bám dính của mex được kiểm tra qua thông số nhiệt và kiểm tra qua giặt: cứ 500 sản phẩm qua máy ép thì lấy 1 lần mẫu thử (cắt 2 mẫu vải 20 cm x 10 cm ép cùng loại mex), đem giặt trong máy giặt ở nhiệt độ trung bình 40°C có xà phòng trong thời gian 45 phút, lặp lại 3 lần. Nếu mẫu không bị bong rộp thì đạt yêu cầu. Lô hàng mex được duyệt cho sản xuất khi đạt tối thiểu 90% số mẫu đạt chuẩn.

Phần III: Đánh giá và nhận xét chung

Theo bố cục mục lục của tác giả, Phần III được dành để tổng hợp các nhận xét, đánh giá chung về hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000 tại Công ty may thời trang Bảy Tốt sau quá trình triển khai áp dụng vào thực tế sản xuất. Tác giả khái quát hiệu quả của việc chuẩn hóa các quy trình bằng văn bản đối với sự ổn định chất lượng, khả năng phối hợp liên phòng ban và việc giảm thiểu các rủi ro vận hành trong dây chuyền may công nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã ghi nhận được những kết quả và đóng góp cụ thể sau:

  • Khảo cứu và ghi nhận hệ thống số liệu chi tiết về năng lực sản xuất của một doanh nghiệp dệt may tư nhân quy mô lớn: tổng diện tích nhà xưởng hơn 36.000 m², quy mô 2.400 lao động, sở hữu hơn 1.500 máy may và 4 dàn thêu vi tính. Năng lực cung ứng đạt 250.000 sản phẩm dệt kim/sơ mi và 225.000 sản phẩm quần mỗi tháng.
  • Ghi nhận chỉ số tăng trưởng sản xuất 9 tháng đầu năm 2016 của công ty với sản lượng xuất khẩu đạt 769.000 sản phẩm, tăng 380% so với cùng kỳ năm trước.
  • Hệ thống hóa đầy đủ cơ cấu tổ chức và văn bản hóa toàn bộ các lưu trình công tác của 4 phòng ban trọng yếu, giúp chuẩn hóa chức năng từ khâu tiếp nhận đơn hàng, hoạch định sản xuất, tuyển dụng, đào tạo đến hạch toán kế toán.
  • Chi tiết hóa quy trình kỹ thuật kiểm soát nguyên phụ liệu đầu vào với các tiêu chí định lượng rõ ràng: công thức chấm điểm lỗi vải 3 mức độ, phân cấp 3 loại chất lượng cuộn vải dệt kim và phương pháp thực nghiệm kiểm tra độ bền dính của mex qua 3 chu kỳ giặt nhiệt ở 40°C trong 45 phút.
  • Ghi nhận sáng kiến quản lý tác nghiệp thực tế trên dây chuyền may qua khẩu hiệu: "Giảm cờ xanh, giành cờ đỏ, bỏ cờ vàng", phản ánh trực quan việc duy trì và đạt chỉ tiêu năng suất của công nhân trên từng vị trí máy may.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số điểm hạn chế dựa trên nội dung văn bản:

  • Dữ liệu cung cấp trong văn bản bị gián đoạn ở phần kiểm tra mex (trang 50) nên chưa phản ánh trọn vẹn số liệu kiểm tra thực nghiệm của các công đoạn tiếp theo như trải cắt, may ráp chuyền và hoàn tất đóng gói sản phẩm dù mục lục có liệt kê.
  • Một số chỉ tiêu kinh tế trong phần báo cáo kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2016 ghi nhận giá trị tuyệt đối chưa chuẩn hóa theo quy ước hạch toán thông thường (kim ngạch 3.000 USD, doanh thu 7.000 VNĐ, mức lương bình quân 1.000 VNĐ/tháng).
  • Nội dung tập trung chủ yếu vào việc mô tả quy trình văn bản và kiểm tra nguyên phụ liệu đầu vào, chưa có số liệu thống kê chi tiết về tỷ lệ phế phẩm hoặc chi phí sai hỏng thực tế phát sinh tại các tổ chuyền may.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định:

  • Hoàn thiện việc thu thập số liệu kiểm soát chất lượng trên toàn bộ các công đoạn còn lại của quy trình công nghệ (trải vải, cắt bán thành phẩm, may lắp ráp và hoàn tất sản phẩm).
  • Nghiên cứu cập nhật hệ thống văn bản của doanh nghiệp từ tiêu chuẩn ISO 9001:2000/2008 sang các phiên bản tiêu chuẩn quản lý chất lượng mới hơn.
  • Phân tích sâu hơn về mặt kinh tế đối với chi phí chất lượng (chi phí phòng ngừa, chi phí kiểm tra và chi phí thiệt hại do sai hỏng).

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản lý công nghiệp, Công nghệ may mặc, Quản trị chất lượng và Quản trị kinh doanh: Cung cấp tài liệu thực tế về cách thức triển khai và văn bản hóa hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 tại một nhà máy dệt may.
  • Cán bộ quản lý chất lượng (QA/QC) và kỹ thuật viên tại các xưởng may: Tham khảo trực tiếp biểu mẫu phân loại chất lượng vải dệt kim theo phương thức điểm lỗi và quy trình thực nghiệm kiểm tra độ bám dính của mex bằng phương pháp giặt nhiệt.
  • Nhà quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ: Tham khảo mô hình phân công chức năng, nhiệm vụ phòng ban và quy trình tuyển dụng, đào tạo nhân sự được chuẩn hóa theo các điều khoản của ISO.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô diện tích và cơ cấu mặt bằng của Công ty may thời trang Bảy Tốt được phân bổ như thế nào giữa các cơ sở sản xuất?
Công ty có 3 nhà máy với tổng diện tích mặt bằng toàn bộ nhà xưởng đạt hơn 36.000 m². Trong đó, Nhà máy 1 có diện tích 8.400 m² (khu vực may chiếm 2.400 m²), Nhà máy 2 có diện tích 3.400 m² (khu vực may chiếm 1.200 m²), và Nhà máy 3 có diện tích lớn nhất là 24.600 m² (khu vực may chiếm 3.300 m² và kho chứa nguyên phụ liệu chiếm 3.400 m²).

2. Quy trình kiểm tra và tiêu chuẩn đánh giá phân loại vải dệt kim nhập kho được thực hiện ra sao?
Nguyên liệu vải được kiểm tra 100% số cuộn bằng máy kiểm vải cuộn rulo để phát hiện lỗi và đo chiều dài. Việc lấy mẫu đánh giá chất lượng thực hiện ngẫu nhiên với tỷ lệ 10%. Điểm lỗi được tính theo 3 mức (0,5 điểm; 1,0 điểm; 2,0 điểm) cho lỗi dọc theo chiều dài (loang màu, ố vàng) và lỗi diện tích (thủng, rách, bỏ mũi). Một cây vải tiêu chuẩn 20 - 23 kg được xếp Loại 1 nếu đạt từ 0 đến 25 điểm (cho phép sản xuất), Loại 2 từ 25,1 đến 35 điểm (thỏa thuận khách hàng) và Loại 3 trên 35 điểm (trả lại). Lô vải được chấp nhận đưa vào sản xuất khi có tối thiểu 90% số mẫu đạt chuẩn.

3. Phương pháp kiểm tra độ bám dính của dựng và mex qua chu trình giặt được quy định cụ thể bằng những thông số nào?
Cứ sau 500 sản phẩm qua máy ép mex, kỹ thuật viên tiến hành lấy mẫu kiểm tra một lần. Mẫu thử gồm 2 mảnh vải kích thước dài 20 cm, rộng 10 cm được ép cùng loại mex trong điều kiện sản xuất bình thường. Mẫu được giặt trong máy giặt ở nhiệt độ trung bình 40°C có xà phòng trong thời gian 45 phút, lặp lại qua 3 chu kỳ giặt. Nếu màng mex không xuất hiện hiện tượng bong, rộp thì được kết luận đạt yêu cầu chất lượng.

4. Khẩu hiệu thi đua tác nghiệp trên dây chuyền may của công ty mang nội dung gì và có ý nghĩa như thế nào trong quản lý năng suất?
Trên các máy thuộc dây chuyền may, công ty áp dụng khẩu hiệu: "Giảm cờ xanh, giành cờ đỏ, bỏ cờ vàng". Trong thực tế sản xuất, việc trên các máy may của công nhân hầu như không xuất hiện cờ vàng mà chủ yếu là cờ đỏ chứng minh công nhân đang duy trì và hoàn thành chỉ tiêu năng suất quy định trong kỳ sản xuất.

5. Lực lượng lao động của Công ty may Bảy Tốt biến động ra sao và cơ cấu công nhân may tại các nhà máy như thế nào?
Vào tháng 8 năm 2002, công ty có 750 cán bộ công nhân viên; đến thời điểm tác giả khảo sát, quy mô nhân sự đã đạt hơn 2.400 người. Trong đó, công nhân may chiếm tỷ trọng lớn nhất với 495 người tại Nhà máy 1, 287 người tại Nhà máy 2 và 760 người tại Nhà máy 3.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thanh Huyền đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000 và phản ánh chi tiết thực trạng áp dụng hệ thống văn bản quản lý tại Công ty may thời trang Bảy Tốt. Công trình cung cấp các dữ liệu cụ thể về mô hình tổ chức, quy mô cơ sở vật chất, năng lực sản xuất và quy trình kiểm soát kỹ thuật nguyên phụ liệu đầu vào trong ngành dệt kim xuất khẩu. Mặc dù số liệu khảo sát thực tế còn hạn chế ở một số công đoạn hoàn tất, khóa luận vẫn là một tài liệu khảo cứu hữu ích cho việc tìm hiểu quy trình tiêu chuẩn hóa chất lượng trong sản xuất may mặc công nghiệp.