phần Mở đầu, phần Kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lƣợng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001-2008 ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Đánh giá hiệu quả áp dụng hệ thống quản lý chất lƣợng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001-2008 ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Giải pháp nâng cao chất lƣợng áp dụng hệ thống quản lý chất lƣợng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001-2008 ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG THEO TIÊU CHUẨN TCVN ISO 9001:2008 Ở CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước 1. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nƣớc xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nƣớc, gắn với chức năng, vai trò của nhà nƣớc trong xã hội có giai cấp.
Theo giáo trình quản lý hành chính nhà nƣớc: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa” 2 Nhƣ vậy, quản lý nhà nƣớc là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nƣớc, đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nƣớc đƣợc hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nƣớc đƣợc hiểu là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nƣớc, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nƣớc trên các phƣơng diện lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nƣớc đƣợc đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân dân lao động làm chủ".
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nƣớc chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống CQHCNN đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời theo pháp luật nhằm đạt đƣợc những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc. Đồng thời, các cơ quan nhà nƣớc nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành 2 Học viện hành chính Quốc gia (2011), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, trang 407, Nxb Lao động 15 chính nhà nƣớc nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Quản lý nhà nƣớc theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm QLHCNN. Khái niệm quản lý hành chính nhà nước Trong quản lý nhà nƣớc nói chung, hoạt động quản lý hành chính là hoạt động có vị trí trung tâm, chủ yếu.
Đây là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cơ bản nhất của nhà nƣớc trong quản lý xã hội. Có thể hiểu “quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật đối với hành vi hoạt động của con người và các quá trình xã hội, do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước”3 Định nghĩa trên có ba nội dung cơ bản: - Thứ nhất, QLHCNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp: hành pháp là một trong ba nhánh quyền lực của nhà nƣớc: Lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. - Thứ hai, QLHCNN là sự tác động có tổ chức và có định hƣớng: Trong QLHCNN, chức năng tổ chức rất quan trọng, vì không có tổ chức thì không thể quản lý đƣợc. Nhà nƣớc phải tổ chức cả triệu ngƣời và mỗi ngƣời đều có vị trí tích cực đối với xã hội, đóng góp phần của mình để tạo ra lợi ích cho xã hội.
QLHCNN có tính định hƣớng vì thông qua tác động quản lý của mình các chủ thể QLHCNN định hƣớng hành vi con ngƣời và các quá trình xã hội theo những quỹ đạo, mục tiêu nhất định. - Thứ ba, QLHCNN đƣợc tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế: QLHCNN là hoạt động thực thi quyền lực nhà nƣớc, sử dụng sức mạnh cƣỡng chế của nhà nƣớc nhƣng phải trong khuôn khổ của pháp luật. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của nhà nƣớc pháp quyền. 3 Học viện hành chính Quốc gia (2011), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, Nxb Lao động 16 1.
Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước Để hiểu đƣợc khái niệm CQHCNN chúng ta cần tìm hiểu khái niệm cơ quan nhà nƣớc. Cơ quan nhà nƣớc là một tổ chức đƣợc thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và đƣợc giao những quyền lực nhà nƣớc nhất định, đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nƣớc. Các cơ quan nhà nƣớc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất đó chính là bộ máy nhà nƣớc. Bộ máy nhà nƣớc Việt Nam hiện nay gồm có 4 hệ thống cơ quan, đó là: Hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nƣớc, Hệ thống các CQHCNN, Hệ thống các cơ quan xét xử và Hệ thống các cơ quan kiểm sát.
CQHCNH là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nƣớc đƣợc thành lập để thực hiện chức năng QLHCNN (quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực hành pháp). Đó là hệ thống cơ quan đứng đầu là Chính phủ, ngoài ra còn có các bộ và cơ quan ngang bộ, UBND các cấp. Trên cơ sở những nội dung trên ta có thể định nghĩa: “Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận hợp thành trong bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam, được thành lập do các cơ quan dân cử tương ứng, trực thuộc và chịu sự lãnh đạo, giám sát của các cơ quan dân cử tương ứng đó, là cơ quan chuyên thực hiện hoạt động hành chính, là chủ thể chủ yếu thực hiện quyền hành pháp và cũng là chủ thể cơ bản của luật hành chính” 4. Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện 1.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện a. Khái niệm uỷ ban nhân dân 4 TS. Trần Minh Hƣơng (Chủ biên), (2010), giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội 17 UBND là cơ quan có vai trò quan trọng trong bộ máy HCNN ở địa phƣơng. Đây là cầu nối đảm bảo tính thống nhất cũng nhƣ toàn diện trong công tác QLHCNN từ Trung ƣơng tới địa phƣơng.
Điều 123 Hiến pháp 1992 và Điều 2 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định “UBND do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, CQHCNN ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên”.[21, điều 2] Nhƣ vậy, UBND là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng đồng thời là CQHCNN ở địa phƣơng. UBND có chức năng chủ yếu là QLHCNN. Hoạt động quản lý của UBND mang tính thống nhất và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với mọi đối tƣợng nhƣng giới hạn trong phạm vi một địa phƣơng, một vùng lãnh thổ nhất định. UBND là một cơ quan hành chính nhà nƣớc của hệ thống hành chính nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đây là cơ quan thực thi pháp luật tại các cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Các chức danh của UBND đƣợc HĐND cấp tƣơng ứng bầu ra và có nhiệm kỳ trùng với nhiệm kỳ của HĐND. Ngƣời đứng đầu UBND là Chủ tịch UBND, thƣờng là phó bí thƣ Đảng ủy Đảng Cộng sản Việt Nam cấp tƣơng ứng. Quyền hạn của UBND đƣợc quy định tại Hiến pháp nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật Tổ chức HĐND và UBND.
UBND các cấp có các cơ quan giúp việc nhƣ: Sở (cấp tỉnh), Phòng (cấp huyện), Ban (cấp xã). Ủy ban nhân dân cấp huyện UBND cấp huyện là một cơ quan chính quyền trung gian giữa cấp tỉnh và cấp xã (dƣới tỉnh và trên xã), thực hiện chức năng QLHCNN theo lãnh thổ. Hoạt động quản lý của UBND cấp huyện mang tính thống nhất, toàn dân và toàn diện. UBND cấp huyện có từ 7 đến 9 thành viên, gồm Chủ tịch, 2-3 Phó Chủ tịch và các ủy viên.
Lãnh đạo UBND cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch. Ngƣời đứng đầu UBND cấp huyện là Chủ tịch UBND, trên danh nghĩa là do HĐND huyện sở tại lựa chọn. Thông thƣờng, Chủ tịch UBND huyện sẽ đồng thời là một Phó Bí thƣ Huyện ủy. 18 Các CQCM của UBND cấp huyện thông thƣờng gồm các phòng, ban trực thuộc: Văn phòng UBND, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Nội vụ, Phòng Tài nguyên - Môi trƣờng, Phòng Công thƣơng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phòng Tƣ pháp, Phòng Giáo dục - Đào tạo, Phòng Y tế, Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội, Thanh tra huyện, Phòng Văn hóa - Thông tin.
Một số cơ quan nhà nƣớc ở cấp huyện nhƣ Chi cục Thuế, Chi cục Thống kê, Ban chỉ huy Quân sự huyện, Công an huyện,. không phải là cơ quan của chính quyền địa phƣơng cấp huyện mà là cơ quan của chính quyền trung ƣơng đặt tại huyện (theo ngành dọc). Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Ngày 05/05/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thay thế Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và Nghị định số 12/2010/NĐ-CP ngày 26/02/2010 sửa đổi, bổ xung một số điều Nghị định số 14/2008/NĐ-CP.