Chương 1: Cơ sở lý luận về Bảng điểm cân bằng và thành quả hoạt động Trong thời đại công nghiệp với hầu hết tài sản của doanh nghiệp là tài sản hữu hình như máy móc thiết bị, đất đai và nhà xưởng, các hệ thống kiểm soát tài chính đã được phát triển để giám sát tình hình tài chính và phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên khi thời đại công nghiệp chuyển sang thời đại thông tin với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới cũng như gia tăng về tài sản vô hình và tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Giá trị của các doanh nghiệp lúc này gắn với các quá trình cải tiến, các mối quan hệ khách hàng và nguồn nhân lực. Hệ thống kế toán tài chính truyền thống không còn cung cấp đủ thông tin để đánh giá thành quả hoạt động.
Thành quả hoạt động của một doanh nghiệp là kết quả doanh nghiệp đạt được sau một quá trình hoạt động kinh doanh, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Thành quả hoạt động không chỉ là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp mà còn là tiêu chí dùng để so sánh với đối thủ cạnh tranh. Thành quả hoạt động có thể là những đại lượng cụ thể có thể định lượng được cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh được mặt chất lượng có tính chất định tính như thương hiệu, uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng về chất lượng sản phẩm, … (Phạm Xuân Lan và Nguyễn Thị Hoàng Mai, 2014). Đánh giá thành quả hoạt động nhằm mục đích xem xét những gì doanh nghiệp đạt được và chưa đạt được, từ đó tìm ra nguyên nhân và điều chỉnh hành động của doanh nghiệp cho phù hợp hơn.
Việc đánh giá thành quả hoạt động là điều hết sức cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp, với những nhược điểm của hệ thống đánh giá thành quả hoạt động bằng thước đo tài chính đòi hỏi xuất hiện một hệ thống đánh giá thành quả hoạt động mới. Bảng điểm cân bằng lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1992 bởi hai giáo sư Kaplan và Norton đã khắc phục được những nhược điểm của hệ thống đánh giá thành quả hoạt động cũ. Cùng với thời gian, nền kinh tế ngày càng phát triển và 9 Bảng điểm cân bằng được thiết kế trở nên linh hoạt hơn cũng như đáp ứng nhiều chức năng hơn so với mô hình đầu tiên. Bài luận văn sử dụng lý thuyết nền về mô hình Bảng điểm cân bằng đầu tiên trên thế giới với chức năng đo lường thành quả hoạt động, kết hợp với những nghiên cứu của Kaplan và Norton năm 1996 cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa các các thước đo và các mục tiêu chiến lược trên bốn phương diện của BSC, nghiên cứu của David Pamenter năm 2007 về các loại thước đo và mối quan hệ giữa thước đo với BSC, nghiên cứu của Atkinson và các cộng sự năm 2012 về các yếu tố của BSC và mô hình chung xây dựng bản đồ chiến lược, nghiên cứu của Niven năm 2006 về phân tầng Bảng điểm cân bằng.
Bên cạnh đó, các bài nghiên cứu liên quan đến áp dụng BSC cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các bài nghiên cứu vận dụng BSC để đo lường thành quả hoạt động cũng được tác giả kế thừa và vận dụng nhằm đo lường thành quả hoạt động tại công ty Hoa Mai. Tổng quan về bảng điểm cân bằng 1. Khái niệm Bảng điểm cân bằng Bảng điể m cân bằ ng là mô ̣t hê ̣ thố ng nhằ m chuyể n tầ m nhìn và chiến lược của một tổ chức thành những mu ̣c tiêu và thước đo cu ̣ thể thông qua viê ̣c thiế t lâ ̣p mô ̣t hê ̣ thố ng đo lường thành quả hoa ̣t đô ̣ng trong mô ̣t tổ chức trên bố n phương diê ̣n: Tài chiń h, khách hàng, quy trin ̀ h kinh doanh nô ̣i bô ̣, ho ̣c hỏi và phát triể n (Kaplan and Norton, 1996). Bảng điể m cân bằ ng liên quan đế n viê ̣c phát triể n mô ̣t chiế n lươ ̣c của mô ̣t doanh nghiê ̣p, nó đươ ̣c thiế t kế để có mô ̣t cái nhin ̀ cân bằ ng ở tấ t cả các yế u tố kinh doanh của doanh nghiê ̣p qua đó xây dựng các biê ̣n pháp thực hiê ̣n phù hơ ̣p.
Sự cân bằng được thể hiện giữa những mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn, giữa các thước đo tài chính và phi tài chính, giữa những chỉ số về kết quả và những chỉ số thúc đẩy hiệu quả hoạt động, giữa những yế u tố bên ngoài và các yế u tố bên trong (Kaplan and Norton, 1996). Lịch sử hình thành và phát triển Bảng điểm cân bằng Trước thập kỷ 90, hầu hết các công ty dựa vào chỉ số tài chính phản ánh những gì đã xảy ra để đo lường thành quả hoạt động. Chỉ số tài chính không cho chúng ta biết vấn đề gì sẽ xảy ra và trong tương lai hoạt động doanh nghiệp sẽ ra sao. Với hệ thống đo lường như vậy khiến các công ty tập trung vào mục tiêu ngắn hạn và gặp khó khăn trong việc kết nối mục tiêu của các bộ phận, cá nhân với mục tiêu của công ty và chiến lược kinh doanh, khó cân bằng được mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn, khó phân bổ nguồn lực cho các hoạt động của công ty một cách hiệu quả.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý dựa trên một bộ các chỉ số đo tốt hơn và hoàn thiện hơn. Năm 1992, Kaplan và Norton giới thiê ̣u khái niê ̣m về Bảng điể m cân bằ ng dựa trên một dự án nghiên cứu liên quan đến 12 công ty để đánh giá hiệu quả kinh doanh. Kaplan và Norton cho rằ ng hệ thống đo lường của tổ chức ảnh hưởng đến hành vi của các nhà quản lý và nhân viên. Phép đo tài chính truyền thống (ví dụ, lợi nhuận trên vố n đầu tư và thu nhập trên mỗi cổ phiếu) có thể cung cấp tín hiệu sai lệch, không giải thích đươ ̣c tác động của tài sản vô hình.
Một số phép đo thay thế đã được đề xuất dựa trên chỉ số hoạt động phi tài chính như thời gian chu kỳ và tỷ lệ khuyết tật. Tuy nhiên, nhiều nhà quản lý cấp cao nhận ra rằng không có phép đo duy nhất có thể cung cấp đủ thông tin về các lĩnh vực quan trọng của doanh nghiệp. Do đó, một bộ cân bằng của phép đo là cần thiết và khái niê ̣m Bảng điể m cân bằ ng đã ra đời (Kaplan and Norton, 1992). Bảng điểm cân bằng là một bộ cân bằng của thước đo tài chính và phi tài chính liên quan đến mục tiêu chiến lược cụ thể trên bốn phương diện chính là Bảng điểm cân bằng thế hệ thứ nhất.
Nó tồn tại một số hạn chế như không đề cập đến cách lựa chọn mục tiêu và thước đo cũng như mối quan hệ nhân quả giữa các thước đo trên bốn phương diện của BSC (Gavin Lawrie and Ian Cobbold, 2004). Sau mô ̣t thời gian quan sát triể n khai thực hiê ̣n Bảng điể m cân bằ ng ta ̣i các tổ chức, Kaplan và Norton nhâ ̣n thấ y các nhà quản trị sử dụng Bảng điể m cân bằ ng 11 không chỉ để làm rõ và truyền đạt chiến lược, mà còn để quản lý chiến lược. Bảng điể m cân bằ ng đã phát triển từ một hệ thống đo lường để cải thiện hệ thống quản lý cốt lõi (Kaplan and Norton, 1996). Theo Gavin Lawrie and Ian Cobbold (2004) thì BSC với chức năng là một hệ thống quản lý cốt lõi chính là thế hệ thứ hai của Bảng điểm cân bằng, với hai cải tiến quan trọng so với thế hệ trước đó chính là: Các thước đo được lựa chọn liên quan đến các mục tiêu chiến lược cụ thể, mục tiêu chiến lược liên quan đến một hoặc nhiều thước đo và được phân cho một trong bốn phương diện của BSC; ghi nhận các mối quan hệ nhân quả quan trọng giữa các mục tiêu chiến lược, đưa ra mối quan hệ nhân quả trong một bản đồ chiến lược.
Gavin Lawrie and Ian Cobbold (2004) cũng đưa ra mô hình Bảng điểm cân bằng thế hệ thứ ba dựa trên việc sàng lọc thiết kế thế hệ thứ hai, với các tính năng mới nhằm cung cấp chức năng tốt hơn và liên quan nhiều hơn đến chiến lược. Nguồn gốc của những phát triển này bắt nguồn từ những vấn đề liên quan đến việc lựa chọn mục tiêu chiến lược và thiết lập mục tiêu. Bảng điểm cân bằng thế hệ thứ ba với 2 cải tiến chính so với thế hệ trước là: - Báo cáo đích (Destination statement): Một mô tả chi tiết định lượng về những gì mà tổ chức (hoặc một phần của tổ chức do những người sử dụng bảng điểm cân bằng quản lý) đạt được trong tương lai. - Mô hình liên kết chiến lược với phương diện "hoạt động" và phương diện "kết quả".
Một mô hình đơn giản hóa với phương diện “kết quả” thay thế phương diện khách hàng và tài chính; phương diện "hoạt động" thay thế cho phương diện học hỏi và phát triển, phương diện quy trình kinh doanh nội bộ. So với mô hình ban đầu, trong thực tế đã có những thay đổi khi thiết kế Bảng điểm cân bằng sử dụng trong các tổ chức. Chẳng hạn như Figge et al. (2002) đưa ra mô hình BSC trong đó lồng ghép các khía cạnh môi trường và xã hội vào việc thực hiện thành công các chiến lược "thông thường" của công ty và các chiến lược bền vững của công ty.
Như vậy, có thể khái quát lại về Bảng điểm cân bằng như sau: BSC là một 12 phương pháp quản lý và thực thi chiến lược kinh doanh gồm một hệ thống các chỉ tiêu đo lường hiệu suất hoạt động theo các phương diện hoạt động cơ bản của công ty xuất phát từ tầm nhìn và sứ mệnh hoạt động của công ty. Có thể nhận thấy hệ thống Bảng điểm cân bằng khi được triển khai trọn vẹn sẽ đáp ứng được 3 chức năng cơ bản: - Là một hệ thống đo lường hiệu suất hoạt động của tất cả các cấp độ quản lý và cá nhân. - Là một công cụ truyền thông hiệu quả trong việc diễn đạt chiến lược kinh doanh của công ty một cách dễ hiểu, ngắn gọn đến tất cả các cấp độ quản lý và cá nhân. - Là một phương pháp quản trị chiến lược kinh doanh hữu hiệu của công ty.