Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Hàm ý quản trị và Kết luận TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Trong chương này tác giả đã xác định được mục tiêu nghiên cứu chung là: Nghiên cứu sự gắn bó của nhân viên trong tổ chức dưới tác động của các khía cạnh văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Du lịch Cần Thơ thông qua xây dựng và kiểm định mô hình ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp. Và mục tiêu cụ thể là Đánh giá thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Du lịch Cần Thơ. Từ đó nhằm phân tích yếu tố văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự gắn bó của nhân viên tại Công ty Cổ phần Du lịch Cần Thơ và đề xuất một số hàm ý quản trị để tăng cường sự gắn bó của nhân viên Công ty Cổ phần Du lịch Cần Thơ. Với 02 phương pháp nghiên 10 cứu là nghiên cứu định tính để xây dựng thang đo và nghiên cứu định lượng sử dụng phần mềm SPPS và Amos phân tích, lượng hóa các thành phần trong mô hình đồng thời tác giả cũng lược khảo một số nghiên cứu đi trước có liên quan đến văn hóa của nhân viên đối với Công ty.
11 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã và đang diễn ra qua hàng bao nhiêu thế kỉ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó mỗi dân tộc khẳng định bản sắc của mình để tồn tại và phát triển (UNESCO, 1992). Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn (Hồ Chí Minh - tuyển tập, 1995). Văn hóa là vốn hiểu biết của con người, tích lũy được trong suốt quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử, được kết tinh lại thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội, biểu hiện ở vốn di sản văn hóa và phong cách ứng xử của cộng đồng. Hệ giá trị là thành tố cơ bản làm nên bản sắc riêng của mọi cộng đồng xã hội, có khả năng liên kết các thành viên làm cho cộng đồng trở thành một khối vững chắc và có khả năng điều tiết hoạt động của các thành viên sống trong cộng đồng xã hội ấy (Đỗ Thị Phi Hoài, 2011).
Văn hóa Doanh nghiệp là tất cả các giá trị tinh thần (dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể) có được của một doanh nghiệp trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp ấy - đã trở thành chuẩn mực và nguồn động lực chủ yếu nhất - thâm nhập vào và chi phối các quan niệm, tập quán và hành vi kinh doanh hướng về sự chất lượng, sáng tạo, trách nhiệm và kết hợp hài hòa các lợi ích. Văn hóa doanh nghiệp liên kết con người trong nội bộ với nhau, liên kết doanh nghiệp và xã hội bằng những giá trị nhân văn, đặt con người vào vị trí trung tâm và quyết định sự cạnh tranh thắng lợi và phát triển bền vững. Văn hóa doanh nghiệp suy cho cùng nó là cốt lõi của nền kinh tế tri thức/ thị trường xã hội và nhân văn. Yếu tố văn hoá luôn hình thành song song với quá trình phát triển của doanh nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp là văn hoá của một tổ chức vì vậy nó không đơn thuần là văn hoá giao tiếp hay văn hoá kinh doanh, nó cũng không phải là những khẩu hiệu của ban lãnh đạo được treo trước cổng hay trong phòng họp. Mà nó bao gồm sự tổng hợp của các yếu tố trên. Nó là giá trị, niềm tin, chuẩn mực được thể hiện trong thực tế và trong các hành vi mỗi thành viên doanh nghiệp.Có rất nhiều định nghĩa xung quanh khái niệm này. Mỗi nền văn hóa khác nhau có các định nghĩa khác nhau.
Mỗi doanh 12 nghiệp lại có một cách nhìn khác nhau về văn hóa doanh nghiệp. Hiện có trên 300 định nghĩa khác nhau về văn hoá doanh nghiệp. Có một vài cách định nghĩa văn hoá doanh nghiệp như sau: “Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài”. “Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp”.
Gareth Morgan (1988) đã mô tả văn hóa doanh nghiệp như: “Các thiết lập của niềm tin, giá trị, và các định mức, cùng với các biểu tượng như các sự kiện và các cá nhân, đại diện cho nhân vật duy nhất của một doanh nghiệp, và cung cấp bối cảnh cho hành động ở trong đó”. Niềm tin và giá trị là những từ sẽ xuất hiện thường xuyên trong các định nghĩa khác. Định mức có thể được mô tả như truyền thống, cấu trúc của cơ quan, hoặc thói quen. Schein (1992) định nghĩa của văn hóa doanh nghiệp là: “Một mô hình giả định chia sẻ cơ bản mà nhóm đã học được là nó giải quyết vấn đề của nó mà đã làm việc tốt, đủ để được coi là hợp lệ và được thông qua vào các thành viên mới là các cách chính xác để nhận thức, suy nghĩ, và cảm thấy liên quan đến những vấn đề”.
Mặc dù từ ngữ khác nhau, nhưng hai định nghĩa là gần như giống nhau về nội dung. Tuy nhiên các khái niệm trên mới chỉ đề cập đến một mặt của VHDN đó là giá trị tinh thần mà bỏ qua một mặt cũng rất quan trọng của VHDN đó là giá trị vật chất. Vì vậy trên cơ sở kế thừa và phát huy các quan điểm trên, mà có thể hiểu mộtcách đầy đủ hơn “VHDN là toàn bộ những nhân tố văn hoá được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Hay nói cách khác thì VHDN là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích chung.2 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp a) Văn hóa doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét trên các khía cạnh như: chất lượng sản phẩm/ dịch vụ, chi phí, sự linh hoạt…trước phản ứng của thị trường 13 Để có được những lợi thế này doanh nghiệp phải có những nguồn lực như: nhân lực, tài chính, công nghệ, máy móc, nguyên vật liệu, phương pháp làm việc (phương pháp 5M : man - con người, money - tài chính, material - nguyên vật liệu, machine - máy móc, method - phương pháp).
Nguồn lực tài chính, máy móc, nguyên vật liệu đóng vai trò lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh trước khách hàng. Nguồn nhân lực đóng vai trò tham gia toàn bộ quá trình chuyển hóa các nguồn lực khác thành sản phẩm đầu ra, vì vậy nó có ý nghĩa quan trong việc quyết định tạo ra những lợi thế cạnh tranh. Tính hiệu quả của nguồn nhân lực phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hóa của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành mục tiêu, chiến lược và chính sách, nó tạo ra tính định hướng có tính chất chiến lược cho bản thân doanh nghiệp, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lược đã lựa chọn của doanh nghiệp.
Môi trường văn hóa của doanh nghiệp còn có ý nghĩa tác động quyết định đến tinh thần, thái độ, động cơ lao động của các thành viên và việc sử dụng đội ngũ lao động và các yếu tố khác. Môi trường văn hóa càng trở nên quan trọng hơn trong các doanh nghiệp liên doanh, bởi vì ở đó có sự kết hợp giữa văn hóa giữa các dân tộc, các nước khác nhau. Ở những môi trường này, văn hóa song hành cùng với các yếu tố quan trọng khác mang lại sự thành công của doanh nghiệp. b) Văn hóa doanh nghiệp là một nguồn lực của doanh nghiệp Mục tiêu của văn hóa doanh nghiệp là nhằm xây dựng một phong cách quản trị hiệu quả, đưa hoạt động của doanh nghiệp vào nề nếp và xây dựng mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa các thành viên của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp trở thành một cộng đồng làm việc trên tinh thần hợp tác, tin cậy, gắn bó, thân thiện và tiến thủ.
Trên cơ sở đó hình thành tâm lý chung và lòng tin vào sự thành công của doanh nghiệp. Do đó, nó xây dựng một nề nếp văn hóa lành mạnh, tiến bộ trong tổ chức, đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp. Văn hóa càng mạnh bao nhiêu, nó càng định hướng tới thị trường càng mạnh bấy nhiêu. Văn hóa và sự định hướng tới thị trường càng mạnh bao nhiêu thì doanh nghiệp càng cần ít chỉ thị, mệnh lệnh, sơ đồ tổ chức, chỉ dẫn cụ thể hay điều lệnh bấy nhiêu.
c) Văn hóa doanh nghiệp thu hút nhân tài, tăng cường sự gắn bó người lao động Nhân tài thường có khuynh hướng gắn bó hơn với những doanh nghiệp có văn hóa phù hợp với những giá trị cá nhân và có thể giúp họ đạt đến thành công trong sự nghiệp. Khi chọn công ty để nộp hồ sơ, ứng viên thường quan tâm đến mức độ mà những chính sách và giá trị trong công ty phù hợp với những giá trị và sở thích của 14 mình; Ví dụ: một vài công ty quy định sự tưởng thưởng về tài chính quan trọng hơn những hình thức thừa nhận về thành tựu khác như sự khen ngợi của cấp trên. Một số ứng viên có thể thích kiểu văn hóa doanh nghiệp coi trọng vật chất này, nhưng người khác lại có thể thấy nó thiếu tình người hoặc hàm chứa sự đe dọa với công việc của họ. Ở khâu chọn lựa ứng viên, nhà tuyển chọn sẽ ưu tiên chọn những người có thể ủng hộ, thích ứng hoặc tuân thủ đường lối và phương châm hoạt động của Công ty - thành tố quan trọng nhất của văn hóa doanh nghiệp.