Chương 1. Giới thiệu về đề tài Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị 4 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Sau chương tổng quan về nghiên cứu, chương 2 trình bày nội dung liên quan đến các cơ sở lý thuyết nền liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài, các học thuyết liên quan và các nghiên cứu trước có mục tiêu nghiên cứu tương đồng để làm cơ sở xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.1 Các khái niệm cơ bản về Sự hài lòng với công việc của nhân viên Theo Spector (1997) thì Sự hài lòng công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ. Sự hài lòng đối với công việc còn có thể hiểu đơn giản chính là sự yêu thích của người lao động đối với công việc của họ, họ vui khi được làm việc và họ không muốn rời bỏ công việc của mình (Smith và cộng sự, 1969).
Theo Locke (1976), Sự hài lòng trong công việc là một trạng thái cảm xúc thú vị hoặc tích cực từ kết quả thẩm định công việc hoặc kinh nghiệm làm việc của một người. Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về sự hài lòng trong công việc của nhân viên, nhưng các quan điểm đều thống nhất rằng: sự hài lòng đối với công việc là việc nhân viên được đáp ứng nhu cầu hay mong muốn của họ khi làm việc.2 Một số học thuyết về sự hài lòng trong công việc 2.1 Thuyết cấp bậc nhu cầu Có nhiều lý thuyết nói về cấp bậc nhu cầu, nhưng thuyết cấp bậc nhu cầu Maslow (1943) là được sử dụng phổ biến nhất để nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc của nhân viên trong tổ chức. Theo Maslow nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng và tự thể hiện. Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bậc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện.
5 Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại. Trong công việc nhu cầu này được thể hiện chủ yếu thông qua tiền lương. Những nhu cầu về an toàn và an ninh là các nhu cầu như an toàn, không bị đe dọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ. Trong công việc nhu cầu này được thể hiện thông qua môi trường làm việc, điều kiện làm việc, bảo hiểm y tế, các chính sách phúc lợi.
Những nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bàn bè, xã hội. Trong công việc thể hiện qua môi quan hệ với đồng nghiệp, lãnh đạo, khách hàng, đối tác. Những nhu cầu tự trọng là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng địa vị. Nhu cầu này thể hiện ở những kết quả đạt được sau khi hoàn thành công việc, việc được ghi nhận.
thường được thể hiện ở bàn chất công việc. Những nhu cầu tự thể hiện là những nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước. Đây là nhu cầu cao nhất và khó được thỏa mãn. Nó thường được thể hiện qua cơ hội đào tạo, cơ hội thăng tiến, được tự khẳng định bản thân.2 Thuyết hai nhân tố Cũng giống như Thuyết cấp bậc nhu cùa của Maslow (1943), thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) cũng được sử dụng phổ biến để nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc của nhân viên trong tổ chức.
Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì. - Các nhân tố động viên gồm thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm công việc, sự thăng tiến và sự tiến bộ, và triển vọng của sự phát triển. Nếu nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự thỏa mãn trong công việc cho họ, ngược lại nhân viên sẽ không có sự thỏa mãn; - Các nhân tố duy trì gồm chính sách Điện lực, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc. Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn trong công việc, ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn.3 Thuyết công bằng Thuyết công bằng cũng là một trong những học thuyết quan trọng trong việc nghiên cứu sự hài lòng của nhân viên đối với công việc.
Stacey Adams (1963) cho rằng nhân viên có xu hướng đánh giá sự công bằng bằng cách so sánh công sức họ bỏ ra so với những thứ họ nhận được cũng như so sánh tỷ lệ đó của họ với tỷ lệ đó của những đồng nghiệp trong Điện lực. Nếu kết quả của sự so sánh đó là sự ngang bằng nhau tức công bằng thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực và hiệu suất làm việc của mình. Như vậy, theo hàm ý của học thuyết này, nếu thù lao nhận được vượt quá mong đợi của họ, họ sẽ có xu hướng gia tăng công sức của họ trong công việc, ngược lại nếu thù lao họ nhận được thấp hơn so với đóng góp của họ, họ sẽ có xu hướng giảm bớt nỗ lực hoặc tìm các giải pháp khác như vắng mặt trong giờ làm việc hoặc thôi việc. Một nhân viên không thể có được sự hài lòng nếu họ nhận ra rằng mình bị đối xử không công bằng từ vấn đề lương bổng, cơ hội đào tạo thăng tiến đến sự hỗ trợ từ cấp trên… 2.4 Thuyết ERG Cũng giống như Thuyết cấp bậc nhu cùa của Maslow (1943), thuyết ERG của Alderfer (1969) cũng được sử dụng phổ biến để nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc của nhân viên trong tổ chức.
Nhìn chung lý thuyết này giống như thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943), tuy nhiên có một số khác biệt như sau: thứ nhất, số lượng nhu cầu được rút gọn còn ba thay vì năm, đó là nhu cầu tồn tại (existence need), nhu cầu liên đới (relatedness need) và nhu cầu phát triển (growth need); thứ hai, khác với Maslow, Alderfer cho rằng, có thể có nhiều nhu cầu xuất hiện trong cùng một thời điểm (Maslow cho rằng chỉ có một nhu cầu xuất hiện ở một thời điểm nhất định); thứ ba, là yếu tố bù đắp giữa các nhu cầu, một nhu cầu không được đáp ứng có thể được bù đắp bởi nhu cầu khác (Kreitner & Kinicki, 2007). 7 Theo Alderfer (1969), các nhà quản lí có xu hướng tập trung vào việc đáp ứng lần lượt từng nhu cầu của nhân viên, trong khi đó nhân viên còn có những nhu cầu khác: - Được thăng chức (phát triển) - Xây dựng mối quan hệ với đồng nghiệp và nhà quản lí (quan hệ) - Thực hiện công việc có ý nghĩa (phát triển) - Được công nhận khi hoàn thành tốt một công việc (quan hệ) - Đóng góp cho một ý tưởng sáng tạo (phát triển) - Tiền lương hợp lí và công bằng (tồn tại) - Mức bảo đảm việc làm (tồn tại) Cho nên, bằng cách xây dựng mối quan hệ tốt với nhân viên, nhà quản lý có thể hiểu rõ hơn về những nhu cầu này và khám phá các cách để đáp ứng chúng.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Lược khảo các nghiên cứu có liên quan 2.1 Các nghiên cứu nước ngoài Beheshta Alemi (2014) trong nghiên cứu: “Sự hài lòng về công việc của các giáo viên tại Afghanistan” được thực hiện với mục tiêu đo lường sự hài lòng trong công việc của các giáo viên tại 4 tỉnh lân cận ở khu vực phía Nam Afghanistan. Nghiên cứu này dựa vào công cụ đo lường như chỉ số mô tả công việc JDI (Job Descriptive Index), bảng câu hỏi khảo sát sự hài lòng đối với công việc JSS (Job Satisfaction Survey), bảng câu hỏi hài lòng MSQ (Minnesota Satisfaction Questionnaire) và một số thay đổi của chính tác giả nghiên cứu để thiết kế và đo lường sự hài lòng công việc. Kết quả phân tích dữ liệu được thu thập từ khảo sát 132 giáo viên cho thấy các nhân tố ảnh hưởng sự hài lòng công việc bao gồm: Tính chất công việc, Lãnh đạo, Sự thăng tiến, Đồng nghiệp, Lương và Điều kiện làm việc.
Ayesha Masood và cộng sự (2014) trong nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên đối với các tổ chức thuộc khu vực công và tư nhân của Pakistan” được thực hiên với mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên và mức độ ảnh hưởng của chúng. Nghiên cứu tiến hành xem xét sự tác 8 động của các yếu tố: Điều kiện làm việc, Trả lương và thăng tiến, An toàn và bảo mật công việc, Đào tạo và phát triển và Trao quyền cho nhân viên đối với sự hài lòng của nhân viên và hơn nữa tác động của sự hài lòng của nhân viên đối với hiệu suất công việc và ý định thay đổi công việc của nhân viên thông qua phân tích dữ liệu được thu thập từ khảo sát 355 mẫu nhân viên trường đại học và một số tổ chức tư nhân trong Thành phố Bahawalpur (Punjab, Pakistan). Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ đáng kể của các yếu tố Điều kiện làm việc, An toàn và An ninh Công việc, Đào tạo và Phát triển và Trao quyền cho Nhân viên về Sự hài lòng của Nhân viên và Hiệu suất Công việc. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 1142 đối tượng tham gia khảo sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 03 yếu tố tác động mạnh nhất đến sự hài lòng trong công việc của các giảng viên trong Khoa Giáo dục trợ lý bác sĩ là Công việc, Mối quan hệ với đồng nghiệp, Cơ hội phát triển thăng tiến.2 Các nghiên cứu trong nước Hà Nam Khánh Giao (2018) trong nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng” được thực hiện với mục tiêu phân tích các yếu tố tác động đến sự hài lòng công việc của nhân viên. Nghiên cứu đã sử dụng thang đo chỉ số mô tả công việc (JDI) làm cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết và có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam.