Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược rau cải bẹ xanh 1.1 Nguồn gốc và công dụng Cai be xanh (Brassica juncea L.) thuộc họ thập tự (Brassicaceae), có nguồn gốc từ miền nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, có nhiều ở vùng Trung Á. Ở nước ta cây được Hình 1.1 Cải bẹ xanh Cây cải bẹ xanh là nguồn cung cấp vitamin A, vitamin C, riboflavin, tiamin và các chất khoáng như: Ca, Fe. Ngoài những chất dinh dưỡng quan trọng thì nó còn chứa một lượng chất xơ lớn có tác dụng kích thích hoạt động của nhu mô ruột giúp tiêu hóa được thuận lợi (Tạ Thu Cúc, 2007).2 Phân loại thực vật Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Brassicales Họ: Brassicaceae Chi: Brassica Loài: B. Vai trò của cai be xanh Cải bẹ xanh là một loại rau ăn lá được sử dụng trong bữa ăn hàng ngày hoặc làm những món ăn khác nhau như nấu canh, món xào, ủ muối hoặc ăn song.
Cai be xanh co vi cay nồng tự nhiên, đắng nhẹ và có nhiều chat dinh dưỡng. Theo Sở NN & PTNN tỉnh An Giang (2019). Cải bẹ xanh có giá trị dinh dưỡng cao, ngoài sử dụng cho bữa ăn hàng ngày thì cải bẹ xanh còn là nguồn nguyên liệu trong Đông y và hạt cải bẹ xanh dùng để ép dầu điều chế mù tạt làm gia vị hay dùng trong công nghiệp. Cải bẹ xanh cung cấp protid, lipid, glucid, celulose, caroten, vitamin C, acid amin, các nguyên tố Ca, P, Fe.
Hỗ trợ hệ tiêu hóa, chống táo bón, chống lão hóa, hỗ trợ tim mạch, chữa gout và phòng chống ung thư bàng quang.4 Đặc điểm thực vật học Theo Tạ Thu Cúc (2007). Cải bẹ xanh thuộc bộ rễ chùm, phát triển nông, tập trung chủ yếu 0 tang dat mat, ré phu phat trién manh va kha nang chiu han kém. La cay thudc dạng thân thảo, cao tới 50 - 100 cm, than tròn, không lông, thân chính kém phát triển, trên thân chính được đính bởi nhiều lá. Lá có 2 phần chủ yếu là cuống lá và phiến lá.
Cuống lá nhỏ hơi tròn, phiến lá nhỏ hẹp, bản lá mỏng có màu xanh vàng đến màu xanh đậm. Diện tích lá thường lớn nên không thé chịu được hạn vì diện tích lá lớn đồng nghĩa với thất thoát hơi nước nhiều. Cải bẹ xanh là cây họ thập tự, cuống hoa dai 3 - 5 cm, hoa vàng tươi. Được tập hợp thành cụm hoa đơn hay hoa kép và không có lá bắc.
Quả cải bẹ xanh thuộc loại quả cải do hai noãn dính với tạo thành bau 1 ô nhưng bị ngăn đôi thành 2 vách giả làm thành cái khung mang hạt. Khi chín, vỏ quả được mở bởi 4 kẽ nứt dọc 2 bên khung để tách thành 2 mảnh vỏ, giải phóng hạt ra bên ngoài. Hạt có kích thước rất nhỏ màu nâu đỏ hoặc nâu 3 sam, vỏ hạt nhẫn, quả cải dai 5 - 12 cm, hạt tròn có màu vàng nâu (Ta Thu Cúc, 2007). Theo cổng thông tin đa dang sinh học An Độ.
Các lá cơ bản không có lông to, dang lá thuôn rộng hình lông chim, các mép lá có răng cưa và đỉnh lá có góc tù. Cum hoa dang chùm mọc ở nách lá hoặc ngọn, thuộc hoa lưỡng tính, có màu vàng tươi. Cuéng hoa mọc thăng, phân đôi và hoa có 4 cánh hình trứng góc hẹp đường kính từ 3 - 9 mm. Cải bẹ xanh có quả thuôn đài thắng hoặc hơi cong dang det hoặc 6 van.
Có gân giữa nôi rõ và chiều đài khoảng 2 - 5 cm. Nhẫn hoặc hiếm khi có lông, có từ 4 - 20 hạt màu nâu nhạt hình trứng và đường kính khoảng 1,5 - 1,8 mm. Cây cải bẹ xanh có bộ rễ chùm, bộ rễ ăn nông trên tầng đất màu, tập trung nhiều nhất ở tầng đất từ 0 - 20 cm. La cái mọc đơn không có lá kèm, những lá dưới thường tập trung, bẹ lá to và phiến lá rất lớn.
Bộ lá khá phát triển, lá to nhưng mỏng nên chịu hạn kém và dé bị sâu bệnh hai phá hoại. Hoa cải có dạng chùm không có lá bắc và hoa nhỏ. Quả thuộc loại quả giác, hạt có phôi lớn và cong, nghèo nội nhủ (Lê Thị Khánh, 2008).2 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và trong nước 1.1 Trên thế giới Số liệu thống kê của UNIDO cho thấy, diện tích trồng rau trên thế giới vào năm 2019 đạt 55.000 ha và sản lượng đạt 1. Châu Á có diện tích trồng rau là 40.000 ha chiếm 72% diện tích canh tác trên thế giới và sản lượng đạt 794.000 tan chiếm 76% sản lượng thế giới.
Trong đó rau họ hoa thập tự nói chung và cải bẹ xanh, cải ngọt nói riêng được trồng ở khắp các nước trên thế giới, tuy nhiên nhóm rau này được trồng nhiều nhất ở Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, sau đó đến Nhật Bản, Philippines, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á khác (UNIDO, 2019). Số liệu thống kê của FAO cho thấy, diện tích trồng rau trên thế giới năm 2021 là 20,498,902 ha và sản lượng đạt 292,200,233 tấn, trong đó Châu Á có tổng diện tích canh tác rau là 16,676,168 ha (chiếm 81,35% tổng diện tích thế giới) và đạt sản lượng 257,693,284 tấn (chiếm 88,19% tổng sản lượng thé giới). Cho thay Châu A có điều kiện khí hậu và thé nhưỡng thích hợp cho các loại rau sinh trưởng và phát triển.2 Trong nước Theo số liệu thống kê của FAO, diện tích trồng rau cả nước Việt Nam năm 2021 là 1,002,974 ha và sản lượng đạt 17,224,210 tan. Đã hình thành hình thành nên vùng chuyên canh rau lớn như ở đồng bằng sông Hing, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ.
Cây cải bẹ xanh cũng được trồng hầu hết các tỉnh thành trong cả nước và hầu như được gieo quanh năm, do đặc tính của giống chịu được thời tiết cả nóng và lạnh. Nhưng cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi nhất van là ở thời tiết của vụ thu đông và đông xuân ở miền Bắc. Mùa hè có nắng to và mưa lớn nên khó trồng hơn. Trong những năm qua, các mô hình sản xuất rau an toàn nhất là phát triển rau ăn lá trong nhà lưới đã có những thành công bước dau, giúp tăng thêm thu nhập cho người nông dân, góp phan cải thiện chat lượng rau cho toàn xã hội.
Bên cạnh đó, rau đang được xã hội đặc biệt quan tâm vì van dé an toàn va chất lượng. Cây cải be xanh có giá trị dinh dưỡng cao cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất. Chúng còn là loại rau dùng dé ăn tươi sống rất phổ biến đặc biệt là trong mùa hé (Ngô Quang Vinh va cs, 2002).3 Yêu cầu ngoại cảnh của cải bẹ xanh 1.1 Nhiệt độ Là yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của cải be xanh. Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự nảy mam, ra hoa, thụ phan, tao hat, quan trong nhất là anh hưởng đến sự chín.
Cải bẹ xanh ở Việt Nam là giống cây chịu nhiệt, rất thích hợp với điều kiện nhiệt độ trong nước. Cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 18 - 22°C (Trần Thị Ba, 2012). Theo Tạ Thu Cúc (2007), yêu cầu cây rau đối với nhiệt độ luôn thay đổi theo từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển. Thời kỳ nảy mầm, các giống rau đều nảy mầm nhanh ở nhiệt độ 25 - 30°C.
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, các cây rau ưa khí hau mát lạnh thi nhiệt độ thích hợp cho quá trình tích lũy từ 17 - 18°C 1.2 Âm độ Âm độ không khí và 4m độ trong đất có ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng và phát triển của cây cải, sự sinh trưởng trong điều kiện khô và nóng rat thích hợp với việc sản xuất hạt cải vì độ 4m cao làm tăng tỉ lệ hoa cái (Tạ Thu Cúc, 2006). Mặt khác các giống cải bẹ xanh có hệ rễ cạn, số lá trên cây nhiều và lớn, vậy nên cây yêu cầu độ 4m dat và độ 4m không khí cao để sinh trưởng. Độ am đất 80 - 85% độ ẩm 5 không khí 80 - 90% có lợi cho sự sinh trưởng về thân lá (Tạ Thu Cúc, 2009).3 Ánh sáng Là một phan quan trọng của quá trình quang hợp. Thời gian chiếu sang là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cải bẹ xanh (Trần Thị Ba, 2012).
Cải có nguồn gốc ôn đới nên yêu cầu ánh sáng thích hợp với thời gian chiếu sáng ngày dài, cường độ ánh sáng yếu. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển là từ 15 - 22°C (Lê Thị Khánh, 2008). Theo Nguyễn Ngọc Trì (2007), ánh sáng là yếu tố quan trọng và cần thiết trong sản xuất rau, đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp của cây, có đến 90 - 95% năng suất cây trồng do quang hợp mà có. Ánh sáng đầy đủ sẽ tăng bề mặt dày của mô, tăng diệp lục của lá thúc đây quá trình quang hợp của cây, ánh sáng có ảnh hưởng rất mạnh đến việc hút khoáng, NH," .4 Đất Đất là nơi cung cấp dinh dưỡng, nước và làm giá thể cho cây đứng vững nên có vai trò quan trọng trong sinh trưởng của cây.
Thường thích hợp nhất là các loại đất cát pha, thịt nhẹ, độ pH khoảng 5. Cây cải bẹ xanh không kén đất, nó có thê sinh trưởng và phát triển và cho năng suất cao ở các loại đất khác nhau, từ đất cát pha đến đất thịt nặng. Nhưng thích hợp nhất là đất giàu đinh dưỡng, kha năng giữ âm tốt (Ta Thu Cúc, 2009).5 Nước Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2011), đã kết luận lượng nước trong cây chiếm 75% đến 95% vì vậy có thé nói nước là nguyên nhân hạn chế lớn nhất đến năng xuat, chat lượng cây rau hơn các yêu tô nao khác. Cải bẹ xanh cần nhiều nước để sinh trưởng, tùy từng thời điểm phát triển mà điều chỉnh lượng nước cho cây.
Các giống cải có hệ rễ cạn lá trên cây không nhiều và lớn do vậy cây cần được giữ âm thường xuyên trong thời gian sinh trưởng. Cải xanh sau khi trồng nên tưới nước 1 ngày 1 lần vào mùa mưa và | ngày 2 lần vào mùa khô. Độ âm đất thích hợp là 70% đến 85% kết hợp với độ âm không khí cao sẽ giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt. Cải bẹ xanh là cây không ưa nhiều nước, nếu đất quá âm kéo đài 3 - 5 ngày sẽ làm cho rễ cây bị nhiễm độc và phải sống trong điều kiện yếm khí, không tốt cho quá trình 6 phát triển của rễ (Lê Thị Khánh, 2008).6 Dinh dưỡng Chất hữu cơ có vai trò cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây rau, thích hợp cho bón lót cải tạo đất và là nguồn dinh dưỡng cho cây con trong quá trình sinh trưởng.