Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về dưa lưới 1. Nguồn gốc Nguồn góc của cây dua lưới được cho là xuất phát từ Châu Phi. Theo nghiên cứu cho rằng, các bộ tộc nơi đây đã từng tìm thấy loại dưa hoang dã này nhưng vẫn chưa xác định chính xác được sự phân bố của loài này.
Mặt khác, vào khoảng hơn 4000 năm trước, dưa lưới được trồng ở các vùng Địa Trung Hải, Trung Đông và Tây Á. Trong nghiên cứu này cũng cho thấy, trên thế giới có nhiều trung tâm đa dạng di truyền cây dưa lưới được phát triển ở các quốc gia Iran, Uzbekistan, Afghanistan, Trung Quốc và Ấn Độ (Lim và cs, 2012). Ngoài ra, theo các nguồn thông tin khảo cô học khác và dựa trên việc phân tích một số văn bản có sẵn, dưa lưới đã được trồng ở Trung Quốc 3000 năm trước Công nguyên, ở An Độ vào năm 2000 trước Công nguyên và ở Ai Cập là 1500 trước Công nguyên (Lya và Beevy, 2021). woot wren wert wevet ta» Hình 1.1 Bản đồ các vùng trồng dưa lưới (Lija và Beevy, 2021) 1.
Phân loại thực vật Dưa lưới thuộc ngành: Magnoliophyta (Thực vật có hoa), lớp: Dicotyledoneae (lớp Hai lá mam), bộ: Cucurbitales (bộ Bau bi), ho: Cucurbitaceae (ho Bau bi), chi: Cucumis, loai: Cucumis melo. Chi Cucumis gồm 52 loài có nguồn gốc chính đến từ Châu A và Châu Phi mang bộ nhiễm sắc thể 2n = 24, với nhiều sự phân biệt về kích thước và hình dạng quả (Sebastian va cs, 2010). Jeffrey (1967) cho rằng Cucumis melo là loài đa dang nhất trong chi Cucumis. Ngoài ra, dua lưới có kích thước bộ gen khoảng 450 — 500 Mb, trồng được ở cả vùng ôn đới và nhiệt đới (Barlow, 2007).
Giá trị dinh dưỡng Về mặt dinh dưỡng, dưa lưới có hàm lượng nước cao và giàu chất dinh dưỡng nhưng có lượng calo thấp nên loại quả này rất thích hợp với nhiều đối tượng người dùng. Hầu hết, các loại chất trong quả dưa lưới rất cần thiết cho con người như chất khoáng và nhiều loại vitamin A, B, C hay kẽm, magie. Mặt khác, loại qua nay còn chứa các chất như cucurbitacin, lithium và kẽm giúp ngăn ngừa ung thư, chống tram cảm, ung nhọt, 4 kích thích hệ thống miễn dịch (Lija và Beevy, 2021) Bảng 1. Giá trị dinh dưỡng trong 100g dưa lưới tươi.
Loại dinh dưỡng Gia tri Loại dinh dưỡng Gia tri Nang luong 34,00 kCal Carotene, beta 2780,00 wg Cacbohydrat 8,69 g Vitamin A 232,00 ug Duong 7,88 g Vitamin K 2,70 ug Chat xo 0,80 g Vitamin C 10,90 mg Lipit 0,11g Vitamin E 0,10 mg Chất đạm 0,82 g Canxi 9,00 mg Thiamin Bị 0,05 mg Sat 0,38 mg Vitamin Ba 0,03 mg Manga 13,00 mg Vitamin Ba 0,69 mg Phốt pho 17,00 mg Vitamin Bs 0.09 mg Kali 157,00 mg Vitamin Be 0,04 mg Kém 0,44 mg Vitamin Bo 7,00 ug Đồng 0,09 mg Lutein + zeaxanthin 32,00 pg (USDA, 2022) 1. Đặc điểm thực vật hoc Re Mặc dù về cau trúc, rễ cây dưa lưới có đặc điểm giống với rễ cây dua hau nhưng lại yếu hơn rễ cây dưa hấu. Rễ chính của cây dua lưới có chiều dai khoảng 0,6 — 1,0 m và rễ phụ có khoảng 9 — 12 rễ phụ lan rộng trên mặt đất. Do đó, cây dưa lưới chịu hạn tốt và chịu âm khá (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996).
Thân Thân của cây dưa lưới thuộc loại cây thân thảo. Bên ngoài thân cây có lông tơ, bên trong xốp, thân cây có thé dai đến 3 m. Thân có long thân phát triển nhanh và nhiều tua cuốn, nhiều đốt, mỗi đốt có một lá. Dưa lưới là loài cây hằng niên, có khả năng phân cành sớm, trong điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển thì cây có thể lên đến 28 cành/cây (Mai Thi Phương Anh và cs, 1996).
Tuy nhiên vào thời kì ra hoa, thân cây phát triển mạnh nhất, có tốc độ sinh trưởng nhanh, lóng dài và đến cuối đời cây già thì đạt độ dài tối đa của mỗi loài (Tạ Thu Cúc, 2005). Lá Cây dưa lưới thuộc họ bau bí, có hai lá mầm mọc đối xứng nhau. Lá thật có dạng lá đơn, mọc xen và có lông tơ. Lá cây có hình xoan, chiều dài từ 6 — 15 cm, hơi lõm ở giữa, màu sắc từ xanh nhạt đên xanh đậm.
Số lá trung bình trên thân chính của cây dưa lưới là 45,8 lá và tuổi thọ trung bình của lá thật và lá mầm lần lượt là 26 ngày và 20 ngày (Tạ Thu Cúc, 2005). Hoa Cây dưa lưới có cả hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính trong cùng một cây. Riêng hoa đực sẽ mọc thành chùm hoặc đơn lẻ ở các nách lá. Hoa cái và hoa lưỡng tính sẽ mọc riêng lẻ.
Vì vậy, cây dưa lưới có khả năng tự thụ phan hoặc thu phan chéo. Hoa no vao buổi sáng va đóng lai vào budi chiều. Số lượng hoa đực nhiều hơn hoa cái rất nhiều. Cuống hoa dai từ 0,5 đến 3 cm, lá đài dài 6 - 8 mm.
Trang hoa hình chuông, hoa 5 cánh màu vàng, xẻ 5 thùy (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996). Hoa đực Hình 1. Hoa cái Quả dưa lưới rất đa dang từ hình dáng đến kích thước hay màu sắc. Khi còn nhỏ 6 quả dưa lưới có nhiêu lông tơ mịn và có màu xanh nhạt.
Quả có hình tròn hoặc hình thuôn. Về bê mặt quả có vân lưới hoặc lông tơ bao phủ. Màu vỏ quả đa dạng từ xanh xám, vàng sam đến vàng xanh và có nhiều hạt. Thịt quả đa dạng màu khi chín như màu cam hay trang.
Khôi lượng qua có thê dao động từ 0,4 — 2,2 kg. Khi chín quả có mùi thơm hoặc không. Vân lưới Vân dưa lưới thường đa dạng và khác nhau, có một sô giông quả mang vân lưới bị nứt và một sô khác thì không có vân lưới. Ngoài ra, vân lưới thường có những dạng như vân lưới to và vân lưới nhuyễn, vân lưới nồi và vân lưới chìm, vân lưới liền va đan đêu mặt vỏ quả hoặc dạng vân lưới đứt khúc, vân lưới thưa và vân lưới dày.
Hạt Dưa lưới có nhiều hạt, nằm bên trong quả, dẹp và có hình elip, một đầu nhọn và một đầu tròn, màu đỏ nâu, trắng hoặc kem. Hạt dưa lưới có chiều dài từ 0,5 - 1,2 em, hạt có hàm lượng dầu cao nên dễ mắt sức nảy mam. Trong hat dưa chứa khoảng 12,5 - 39,1% dầu (Vũ Văn Liết và Nguyễn Văn Hoan, 2007). Mỗi quả cho 500 — 600 hạt, vì hạt chứa nhiều chất béo nên dé mat sức khi nảy mầm (Mai Thị Phương Anh va cs, 1996).
Yêu cầu ngoại cảnh Nhiệt độ Dưa lưới là cây trồng nhiệt đới nên thích hợp ở nhiệt độ cao. Nhiệt độ giúp cây sinh trưởng và phát triển thích hợp từ 25 — 30°C (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996). Dưa lưới có phạm vi tối thích tương đối rộng nên có thé gieo trồng ở hầu hết các vụ trong năm trừ những ngày rét có nhiệt độ thấp hơn 15 °C, sự sinh trưởng của cây sẽ bị hạn chế khi nhiệt độ 35 °C (Giang Seo Diu, 2018). Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển sâu bệnh hại ở cây trồng.
Thời gian của giai đoạn trứng và ấu trùng của bọ trĩ bị ảnh hưởng khi nhiệt độ tăng lên. Cụ thể, thời gian phát triển từ trứng đến con trưởng thành ở bọ trĩ sẽ giảm khi nhiệt độ tăng lên từ 16 — 31°C (Yadav và Chang, 2014). Ánh sáng Ánh sáng là yếu tô đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng của các loài cây nói chung và cây dưa lưới nói riêng. Cây dưa lưới là cây ưa sáng.
Vì vậy, cây cần nhiều ánh sáng ngay từ khi xuất hiện lá mầm đầu tiên cho đến khi kết thúc sinh trưởng. Đặc biệt, nắng nhiều và nhiệt độ cao là hai yếu tố làm tăng chất lượng dưa. Cây thiếu ánh sáng làm giảm tỷ lệ đậu quả, kích thước quả, khả năng tích đường. Yêu cầu ánh sáng cho dưa từ 8 - 12 giờ/ngày.
Quang kì ngắn kết hợp với cường độ ánh sáng mạnh sẽ thúc đây cây ra hoa cái nhiều, tăng tỷ lệ đậu quả, quả chín sớm (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996). Am độ Dưa lưới có hệ rễ ăn sâu và phân nhánh nhiều nên thuộc nhóm cây chịu hạn và không chịu được tng. Độ ẩm thích hợp cho cây dưa lưới phát triển tốt từ 75 — 80%. Ở độ âm cao cây dé bị bệnh hại xâm nhiễm.
Độ ẩm dat thay đổi đột ngột, nhiệt độ không thích hợp sẽ gây ra hiện tượng quả phát triển không bình thường, không cân đối, dị hình. Thời kì cần nước là thời kì sinh trưởng thân lá, thời kì hình thành hoa cái và thời kì quả phát triển (Lim, 2012). Dat và dinh dưỡng Dưa lưới yêu câu dinh dưỡng cao hơn các cây cùng họ, tuy nhiên quá nhiêu phân hữu cơ thân lá sẽ phát triên mạnh, trong các nguyên tô vô cơ, thứ tự vai trò cân cho cây là P,N, K (Mai Thị Phương Anh, 1996). Loại đất thích hợp với dưa lưới là đất thịt nhẹ và cát pha và tốt nhất là đất phù sa.
Đất cát pha và thịt nhẹ vừa thoát nước, giữ được màu và giữ được nhiệt độ của đất nên giúp cây điều hoà, thúc đây quá trình phát dục của đưa lưới, thúc đây cây dưa lưới mau ra quả, quả cho ra có màu sắc và hương vị cao. Năng suất và chất lượng thường kém hơn ở những nơi có tầng đất canh tác mỏng, nhiều cát, ít màu, khô hạn. Yêu cầu giá thể khi trồng dưa lưới trên phải tơi xốp và phải được xử lý trước khi phối trộn để đảm bảo không còn chứa nguồn bệnh và các chất gây hại cho cây dưa lưới như chất tannin có trong mụn đừa (Phạm Hồng Cúc, 2003). pH pH thích hợp cho dưa lưới phát triển là vào khoảng 6,0 - 6,8 (Tạ Thu Cúc, 2005).
Cây sẽ bị vàng lá và ít ra hoa cái nếu pH < 6. Vì vậy cần đảm bảo độ pH được ổn định dé cây phát triển tốt. Sâu bệnh hại chính Sâu hại Bo tri (Thrips palmi Karny): Con trưởng thành có kích thước nhỏ, dai 1-2 mm và màu đen. Bọ trĩ thường đẻ trứng trong mô lá.
Cả ấu trùng và thành trùng thường sống ở mặt dưới lá và nơi trốn của chúng thường ở gần gân lá. Do đó, bằng mắt thường sẽ rat khó nhìn thấy và thuốc trừ sâu cũng rất khó tiếp xúc được với chúng. Bọ trĩ thường chích cho nhựa cây chảy ra dé hút ăn, đôi khi còn cạp cả mô lá hoặc cây. Thường xuất hiện ngay từ khi cây còn nhỏ và mật độ tăng dần khi cây phát triển thân lá mạnh.
Lá cây bị bọ trĩ gây hại sẽ có dạng quăn queo, lá non biến dạng và bị cong xuống phía dưới.