mở đầu là nhà thực vật học Hà Lan -Van Helmont (1962) ông đã trồng cây Liễu nặng 2.25kg vào thùng chứa 80kg đất. Một năm sau cây liễu nặng 66kg trong khi đất chỉ giảm 66g. Tác giả kết luận cây chỉ cần nước để sống. Năm 1963 Kinur và Chiber khẳng định việc bón phân cho đất theo từng thời kì khác nhau là khác nhau.
Cùng năm đó Turbittki đã đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuổi cây, cần có nhiều nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân bón không cần thiết. Việc bón phân thừa hay thiếu đều dẫn tới biểu hiện cây sinh tưởng chậm và chất lượng kém. Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới như Mĩ, Anh, Nhật, Trung Quốc.đã sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất cho nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như: Atonik, Yogen, .(Nhật Bản), Bloom, Blus, Solu,. Nhiều chế phẩn đã được nghiên cứu và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.
Landis (1985) [14] chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng. Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con.
Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha. Do đó tính ưu việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao. Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng các chể phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư. Phân bón sinh học trở thành loại phân phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất, nông lâm nghiệp hiện đại.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam Nguyễn Minh Đường (1985) [3] và nhiều tác giả khác cũng có những nghiên cứu chi tiết về gieo ươm và trồng rừng sao dầu ở rừng ở miền Đông Nam Bộ.
Nguyễn Xuân Quát (1985) [7] khi nghiên cứu gieo ươm thông nhựa (Pinus merkusii), tác giả cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu. Những nghiên cứu như thế cũng đã được Hoàng Công Đãng (2000)[2] thực hiện với loài Bần chua ở giai đoạn vườn ươm Theo Nguyễn Tuấn Bình (2002) [1] khi nghiên cứu về gieo ươm Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre), tác giả nhận thấy độ tàn che 25% - 50% là thích hợp cho sinh trưởng của Dầu song nàng 12 tháng tuổi. Nguyễn Tuấn Bình (2002) [1] những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước bầu đến sinh trưởng của cây gỗ non cũng đã được nhiều tác giả quan tâm, kích thước bầu thích hợp cho gieo ươm Dầu song nàng là 20x30 cm, đục 8 - 10 lỗ. Tuy nhiên không phải tất cả các loài cây đều cần một loại hỗn hợp như nhau, mà chúng thay đổi tùy thuộc vào đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây.
n 9 Nguyễn Tuấn Bình (2002) [1] khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterrocarpus dyerii), tác giả cũng nhận thấy hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng của cây con. Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006) [6] gieo ươm cây Huỷnh liên (Tecoma stans (L.K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp bao gồm đất, phân chuồng hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ 90:5:2: 2,1 và 0,3% kali clorua, 0,5% super lân và 0,1% vôi ). Theo Mai Quang Trường, Lương Thị Anh (2007) [12] cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn phân bón lá có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất. Do trên mỗi lá có hàng triệu khí khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng.
Phân được xâm nhập trực tiếp, di chuyển nhanh chóng trong cây nên đáp ứng được nhu cầu cần thiết nhu cầu dinh dưỡng của cây trong thời gian ngắn, giúp cây sinh trưởng tốt cho năng suất và chất lượng cao. Một số thông tin về loài cây Gáo [13] Đó là tên mà người Thái Lan đặt cho cây Gáo. Còn tại Hội nghị Lâm nghiệp thế giới lần thứ 7, các nhà khoa học lâm nghiệp đã tôn vinh cây Gáo là “cây kỳ tích”, bởi những tiềm lực cực lớn của nó trong việc gây rừng nhân tạo mọc nhanh. Gáo có tên khoa học là Anthocephalus chinensis (Lam) A., thuộc họ Rubiaceace, là cây gỗ thường xanh hoặc nửa rụng lá, thân cao tới 35 mét, đường kính ngang ngực tới trên 100 cm, thân tròn, thẳng đứng.
Gáo có mặt ở các nước Việt Nam, Trung Quốc, Srilanka, Philipin, Ấn Độ, Indonexia, Mianma, Thái Lan… Phân bố tự nhiên ở vùng 21o30 tới 22o30 vĩ Bắc, 99o - 108o kinh Đông. Ở Việt Nam, Trung Quốc, thường gặp cây Gáo ở độ cao từ 450 đến 650 mét, rất hiếm thấy ở độ cao 850 đến 1. Thông thường, Gáo phân bố ở vùng đất ẩm ướt các thung lũng. Gáo là cây rừng mưa, nửa rụng lá của vùng nhiệt đới, Nam á nhiệt đới, tập trung phân bố ở vùng có nhiệt độ không khí bình quân năm 20 - 24oC, nhiệt độ tối cao cực trị 40oC, tối thấp cực trị 4oC, lượng mưa bình quân 1.000 mm, không có sương giá, Gáo rất dễ bị sương muối gây hại… Cây Gáo sinh trưởng nhanh, sau 10 năm đã thành cây gỗ lớn.
Theo Viện khoa học Lâm nghiệp Quảng Tây (Trung Quốc), cây Gáo 30 năm tuổi n 10 có đường kính ngang ngực 46,3 cm, cao 22,7m. Còn ở Thái Lan, cây Gáo 6 tuổi có chu vi thân (đo cách mặt đất 1 mét) đạt tới 197 cm. Trong 1 đến 5 năm đầu, cây vươn cao rất nhanh, lượng tăng trưởng bình quân năm từ 3 đến 3,5m, trong 3 đến 10 năm là thời kỳ lớn về thân, lượng tăng trưởng bình quân năm của đường kính từ 3 đến 4 cm. Lượng sinh trưởng luỹ kế về gỗ sau 50 năm vẫn chưa bước vào thời kỳ cao điểm, chứng tỏ cây Gáo, sinh trưởng ở giai đoạn sau vẫn lớn.
Vì có sức mọc nhanh đến kỳ lạ, nên cây Gáo có triển vọng rất lớn. Nếu thâm canh cao, thì chỉ sau 5 đến 8 năm gỗ lớn. Gáo có thân thẳng đứng, gỗ vàng nhạt kết cấu đều, sợi gỗ thô và dài, không có mùi vị dị biệt, gỗ khô nhanh, không dễ nứt nên chế biến rất dễ, tính năng bám sơn tốt. Tính năng lực học của gỗ Gáo thuộc loại trung bình, các tiêu chí chất lượng của gỗ Gáo tương đương với gỗ sa mộc.
Tuy có nhược điểm là tính chịu lực hơi kém, ngâm nước dễ đổi màu, ở vùng nhiệt đới dễ bị mối mọt (có thể dùng thuốc để xử lý), gỗ Gáo vẫn được dùng để sản xuất đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ, thùng xe, trang trí kiến trúc, là nguyên liệu rất tốt để làm ván sợi nhân tạo, ván MDF, bột giấy… Vỏ Gáo, rễ Gáo có thể làm thuốc, lá Gáo có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi. Với đặc tính thân cao, lá to, tán đứng cao vút, bề thế, Gáo còn là một loại cây quý trong công viên, lâm viên… Gáo có thể trồng ở khắp nơi: ven đường, góc vườn, ngõ, ven ao hồ, ven sông ven suối, cạnh đình chùa, đồi… Do không trồng thành rừng dầy được, nên nó rất thích hợp cho những hộ gia đình ở các làng quê vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du, tuy không nhiều diện tích đất nhưng vẫn có thể trồng. Theo ông Nguyễn Công Tạn, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, thì hiện nay, mỗi năm ta phải nhập khẩu tới 4 triệu m3 gỗ mới đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước. Nếu mỗi hộ gia đình ở Đồng bằng sông Hồng và Trung du chỉ cần trồng bình quân 10 cây Gáo thôi, thì chỉ sau 5 đến 8 năm nữa, mỗi hộ dân sẽ có thu nhập hàng trăm triệu đồng từ gỗ Gáo, còn nước ta sẽ có hàng trăm triệu m3 gỗ.
Hiện tại, trường đại học Thành Tây đã nhập giống gáo từ nước ngoài, sau khi tuyển chọn, đặt tên là Gáo Thành Tây, và hiện giống gáo này đã được trồng ở một số tỉnh như Bắc Giang, Nghệ An… Trường cũng đang dự kiến trồng rộng rãi ở các hộ gia đình vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du Bắc bộ. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu. * Vị trí địa lí - Đề tài được thực hiện tại vườn ươm Trung tâm nghiên cứu và phát triển Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, Căn cứ vào bản đồ địa lí Thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau: + Phía Bắc giáp với phường Quan Triều + Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán + Phía Tây giáp với xã Phúc Hà + Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. * Địa hình Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao.
Độ dốc trung bình là 10 – 15°, độ cao trung bình 50 - 70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là đất Feralit phát triển trên đá sa thạch. Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường ta nhận thấy: Bảng 2. Kết quả phân tích mẫu đất chỉ tiêu chỉ tiêu dễ tiêu/100g đất Độ sâu tầng đất (cm) Mùn N P2O5 K2O N P2O5 K2O PH 1 - 10 1.7 (Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL Thái Nguyên) - Độ PH của đất thấp chứng tỏ đất ở đây là đất chua.
- Đất nghèo mùn, hàm lượng N, P2O5 ở mức thấp chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng. * Đặc điểm khí hậu thủy văn: Do vườn ươm nằm trong khu vực của thành phố Thái Nguyên nên nó mang đầy đủ tính chất chung của khí hậu thành phố. Qua tham khảo số liệu n 12 của đài khí tượng thủy văn Gia Bảy Thành Phố Thái Nguyên ta có thể thấy diễn biến thời tiết của khí hậu trong vùng ở thời gian nghiên cứu như sau: Bảng 2. Một số yếu tố khí hậu tại thành phố Thái Nguyên Tháng Nhiệt độ trung Ẩm độ không khí Lượng Mưa bình (°C) (%) (mm) 1 11.1 (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Gia Bảy Thành Phố Thái Nguyên) * Hiện trạng vườn ươm: Do vườn ươm mới được chuyển đến giữa năm 2009 nên thành phần số lượng cây không nhiều, không phong phú và đa dạng, nhìn chung vườn ươm có quy mô khá rộng.