MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phụ thuộc rất lớn vào nhiều yếu tố, trong đó lao động là yếu tố luôn được đặt lên hàng đầu. Nguồn lao động dồi dào và đạt hiệu suất cao luôn là điều mà bất kỳ doanh nghiệp nào đều muốn hướng đến. Bởi vậy, các doanh nghiệp luôn cân nhắc chế độ trả lương và thưởng sao cho hợp lý, vừa đạt được mục tiêu của doanh nghiệp vừa giữ chân người lao động gắn bó lâu dài, đây là một bài toán khó nhưng lại rất quan trọng đối với người làm lãnh đạo.
Đối với doanh nghiệp, tiền lương là một khoản chi phí, việc hạch toán lương một cách chính xác, hợp lý sẽ góp phần kích thích người lao động làm việc, tăng hiệu quả cho doanh nghiệp. Đối với người lao động, tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu giúp họ chăm lo gia đình, đảm bảo trang trải cuộc sống. Việc trả lương đúng với công sức bỏ ra giúp người lao động tăng năng suất lao động, tự giác và có trách nhiệm hơn trong công việc. Đối với xã hội, tiền lương là một bộ phận của sản phẩm xã hội, là nguồn khởi đầu của quá trình tái sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa.
Vậy nên xây dựng một cơ chế trả lương phù hợp, hạch toán đầy đủ và thanh toán kịp thời có một ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế cũng như về mặt chính trị đối với người lao động. Công ty TNHH Quản trị doanh nghiệp BCM Việt Nam là doanh nghiệp chuyên về lĩnh vực dịch vụ kế toán, dịch vụ thuế và dịch vụ tư vấn doanh nghiệp. Với đội ngũ gần 30 nhân viên có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán, tài chính và thuế, công ty BCM Việt Nam được cấp giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ kế toán từ Bộ tài chính cũng như giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ đại 1 lý thuế của Tổng cục thuế. Với sự phát triển của thị trường dịch vụ kế toán, số lượng nhân viên tại công ty có xu hướng tăng để đảm bảo đủ nguồn lực cung cấp các dịch vụ cho khách hàng về kế toán cho nên tiền lương đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với công ty vì nó là khoản chi phí chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn.
Mặt khác, tiền lương còn ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi nhân viên của công ty. Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương qua việc nghiên cứu, tìm hiểu tình hình thực tế tại công ty, em đã chọn đề tài : “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Quản trị doanh nghiệp BCM Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Quản trị doanh nghiệp BCM Việt Nam.
Qua đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống vấn đề lý luận cơ bản về công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp. - Tìm hiểu thực trạng công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Quản trị doanh nghiệp BCM Việt Nam. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty trong thời gian tới.
Đối tượng & phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Quản trị doanh nghiệp BCM Việt Nam. 2 Cụ thể là các chứng từ sổ sách có liên quan đến công tác hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Nghiên cứu về Công ty TNHH Quản trị doanh nghiệp BCM Việt Nam.
- Địa chỉ: số 7, đường Tôn Thất Thuyết, phường Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội - Phạm vi thời gian: - Đề tài phản ánh số liệu về tình hình chung của doanh nghiệp từ năm 2017 – 2019. - Phạm vi nội dung: Công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Quản trị doanh nghiệp BCM Việt Nam trong tháng 8 năm 2020. 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan tài liệu 2.
Khái niệm chung 2. Khái niệm về tiền lương Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động trở thành hàng hóa, người có sức lao động có thể tự do cho thuê hay bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động: Nhà nước, chủ doanh nghiệp…thông qua các hợp đồng lao động. Sau quá trình làm việc, chủ doanh nghiệp sẽ trả một khoản tiền có liên quan chặt chẽ đến kết quả lao động của người đó. Về tổng thể tiền lương được xem như một phần của quá trình trao đổi giữa doanh nghiệp và người lao động.
Theo quy định tại điều 90 Bộ luật lao động năm 2012: “Tiền lương được xác định là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc.
Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau. Vậy nên, các nhà quản lý luôn cố gắng tìm ra phương pháp để công tác quản lý tiền lương và các khoản trích theo lương tại mỗi doanh nghiệp đạt hiệu quả, tiết kiệm, xây dựng và thực hiện một chế độ tiền lương và phúc lợi hợp lý vừa kích thích người lao động làm việc năng suất vừa góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả chi phí cho doanh nghiệp. Do đó góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng lợi 4 nhuận cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho công nhân viên, cho người lao động trong doanh nghiệp. Khái niệm về các khoản trích theo lương Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích theo lương, cùng với việc chi trả tiền lương, người sử dụng lao động còn phải trích một số tiền nhất định tính theo tỷ lệ phần trăm (%) của tiền lương để hình thành các quỹ theo chế độ quy định nhằm đảm bảo lợi ích của người lao động.
Hiện nay các khoản trích theo lương bao gồm: Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), Kinh phí công đoàn (KPCĐ). Các quỹ này được lập theo quy định của Nhà nước, hình thành từ hai nguồn: một phần do người lao động đóng góp, phần còn lại được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bảo hiểm xã hội Căn cứ theo Khoản 1 tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội số: 58/2014/QH13 ban hành ngày 20/11/2014: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Khoản chi trợ cấp BHXH cho người lao động được tính trên lương cơ sở, chất lượng lao động và thời gian mà người lao động đã cống hiến cho xã hội trước đó.
Bảo hiểm y tế Theo Khoản 1 tại Điều 2 luật Bảo hiểm Y Tế số 46/VBHN-VPQH ban hành ngày 10 tháng 12 năm 2018: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này”. BHYT được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám chữa bệnh, thuốc 5 chữa bệnh, viện phí. cho người lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ. Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của người lao động thực tế phát sinh trong tháng.
Kinh phí công đoàn Theo nghị định số 191/2013/NĐ-CP được ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2013: “Kinh phí công đoàn là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp, nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng thời duy trì hoạt động của công đoàn tại doanh nghiệp”. KPCĐ là nguồn tài trợ cho các hoạt động công đoàn ở các cấp, được hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương thực tế phải trả cho người lao động thực tế phát sinh. KPCĐ được phân cấp quản lý và chi tiêu theo chế độ, một phần nộp lên cơ quan quản lý công đoàn cấp trên và một phần để lại doanh nghiệp để chi tiêu cho hoạt động công đoàn cơ sở tại đơn vị. Bảo hiểm thất nghiệp Theo Khoản 4 tại Điều 3 luật Bảo hiểm Thất nghiệp số 38/2013/QH13 ngày 16 tháng 11 năm 2013: “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp”.
Tại khoản 1 điều 43 của Luật việc làm 2013. người thất nghiệp được hưởng BHTN khi có đủ các điều kiện sau đây: - Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc - Đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp - Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp - Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN Theo điều 50 của Luật việc làm 2013, mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. 6 Thuế thu nhập cá nhân Là khoản tiền thuế mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu khác vào ngân sách nhà nước sau khi đã tính các khoản được giảm trừ. Có 03 cách tính thuế TNCN từ tiền lương, tiền công dành cho 3 đối tượng khác nhau.