Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhằm đưa các giống gia cầm thuần chủng, có sức sản xuất cao chuyển từ các vùng ôn đới đến các vùng nhiệt đới, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của khí hậu đến gia súc gia cầm. Hiện nay đã có một số nghiên cứu về phản ứng tự bảo vệ của trâu, bò đối với ảnh hưởng của nhiệt độ cao; ở gia cầm cũng đã có có một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sức sống của gà. Tuy các nghiên cứu còn ít nhưng những kết quả thu được này cũng đã góp phần quan trọng trong việc xác định điều kiện khí hậu môi trường thích hợp, góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, sức sản xuất tối đa của gà thường phụ thuộc vào khả năng duy trì mức hoạt động sinh lý cần thiết cho sự tồn tại và phát triển cho điều kiện bất lợi.
Mức độ stress của gà nuôi thịt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Nhiệt độ, độ ẩm và sự chuyển động của không khí. Ảnh hưởng của nhiệt độ cao làm tiêu tốn thức ăn tăng, tốc độ sinh trưởng giảm và sự bảo vệ của con vật có thể bị hạn chế. Mức độ stress gây nên do yếu tố khí hậu như nhiệt độ không khí được phản ánh qua sự thay đổi một số phản ứng sinh lý của cơ thể, chẳng hạn gà phải cố duy trì sự ổn định thân nhiệt. Sức sản xuất giảm trong điều kiện khí hậu nóng trước tiên là do giảm mức ăn vào và sau đó là tốc độ phát triển.
Ngoài ra, dưới tác động của nhiệt độ cao làm thay đổi khả năng phát triển, ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng, ảnh hưởng đến tốc độ trao đổi chất cũng như khả năng sinh sản. Đáng chú ý là stress nóng rất nguy hiểm và nó có thể gây chết gia súc, gia cầm. Tương tác giữa cơ thể và môi trường 1. Trao đổi nhiệt giữa gia cầm và môi trường Động vật nói chung và gia cầm nói riêng tồn tại trong mối quan hệ và tác động qua lại với môi trường và luôn chịu sự tác động trực tiếp của các yếu tố môi trường.
Quá trình trao đổi chất luôn luôn tạo ra một lượng nhiệt và nhiệt năng này thoát ra bên ngoài khi môi trường xung quanh có nhiệt độ thấp hơn. Tốc độ mất nhiệt phụ thuộc vào thang chênh lệch giữa 2 mốc nhiệt độ và trạng thái tự nhiên của môi trường. Vì vậy, sự thay đổi các yếu tố tác động đến tốc độ mất nhiệt của gia cầm ra môi trường sẽ ảnh hưởng đến mức độ căng thẳng do stress nhiệt gây nên. Phương thức trao đổi nhiệt giữa cơ thể và môi trường Sở dĩ nhiệt độ cơ thể động vật đẳng nhiệt nói chung và gia cầm nói riêng được giữ ở mức ổn định cao là nhờ quá trình sinh nhiệt luôn xẩy ra đồng thời.
Quá trình sinh nhiệt Sinh nhiệt là kết quả của các phản ứng oxy hóa khác nhau, do đó sự sinh nhiệt của chúng không giống nhau. Khi nghỉ ngơi, 10-15% nhiệt sinh ra từ gan, 20% từ cơ; 25% từ bộ máy tiêu hóa và phần còn lại từ tim, thận, hệ thần kinh, da. Sự sinh nhiệt của gia súc chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh và trang thái sinh lý của cơ thể, như khi ăn no lượng nhiệt sinh ra gấp nhiều lần do tăng hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Vào mùa lạnh, con vật phải tăng sinh nhiệt để chống lạnh, do đó động vật ăn nhiều.
Còn vào mùa hè, con vật sinh nhiệt giảm nhất là khi nhiệt độ bên ngoài tiến tới gần bằng hoặc cao hơn nhiệt độ cơ thể. Trong trường hợp đó, một phần nhiệt bên ngoài xâm nhập vào cơ thể làm giảm sinh nhiệt của cơ thể. Quá trình tỏa nhiệt Ở môi trường nhiệt cao hoặc thấp, các phản ứng của gia súc chủ yếu là do kết quả của sự cản trở hoặc thúc đẩy phát tán nhiệt sinh ra trong quá trình duy trì sự sống, hoạt động sản xuất và ăn uống. Đối với gà, sự mất nhiệt bằng 4 phương thức tự nhiên như sau: Tiếp xúc với nền chuồng (đệm lót).
Đối lưu với không khí hoặc nước chuyển động. Bức xạ bề mặt xung quanh. Bốc hơi qua các lỗ tự nhiên (chủ yếu qua đường hô hấp và tiêu hóa) 1. Cơ sở khoa học về sự di truyền các tính trạng năng suất 1.
Tính trạng số lượng Theo Trần Huê Viên (2001) [35]: Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi thuộc nhóm tính trạng số lượng, đó là những tính trạng mà ở đó sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại. Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường, giá trị của các tính trạng số lượng có thể xác định bằng các phương pháp cân, đo, đong, đếm (như tốc độ tăng khối lượng, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, tỷ lệ ấp nở,… Nguyễn Ân và cs (1993) [1] cho biết, cơ sở lý thuyết của di truyền học số lượng được thiết lập vào khoảng năm 1920 bởi công trình của Fishter (1918), Wright (1926) và Haldane (1932), sau đó môn di truyền học số lượng được nhiều nhà di truyền và thống kê bổ sung nâng cao, trở thành cơ sở vững chắc và được áp dụng rộng rãi trong việc cải tiến giống vật nuôi. Các yếu tố ảnh hưởng tính trạng số lượng Các đặc tính bên ngoài hoặc các biểu hiện bên ngoài của một cá thể được gọi là kiểu hình, kiểu hình là do kết quả tương tác giữa kiểu gen và môi trường gây ra. Như vậy, giá trị kiểu hình của tính trạng nào đó được quy định bởi kiểu gen của cá thể và tác động của môi trường có thể biểu thị như sau: n 7 P=G+E Trong đó: P: là giá trị kiểu hình (Phenotypic Value).
G: là giá trị kiểu gen (Genotypic Value). E: là sai lệch môi trường (Environmental Deviation). Cũng theo Trần Huê Viên (2001) [35]: Kiểu gen của tính trạng số lượng thường do nhiều gen quyết định, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng thường do nhiều gen cấu tạo thành, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygene). Tuy nhiên, sự phân chia hiệu ứng của gen làm hai loại nhỏ và lớn chỉ là tương đối vì còn có nhiều gen có hiệu ứng trung gian, hơn nữa do hiện tượng đa hiệu của gen một gen có thể có hiệu ứng nhỏ đối với một tính trạng này nhưng lại có hiệu ứng lớn đối với một tính trạng khác.
Đối với tính trạng số lượng, thường giá trị kiểu gen chịu ảnh hưởng bởi ba loại tác động của các gen, đó là giá trị cộng gộp (hoặc giá trị giống) (Additive Value - A), sai lệch trội (Dominance Deviation - D) và sai lệch tương tác giữa các gen (Interaction Deviation - I): G=A+D+I Ngoài ảnh hưởng của kiểu gen, giá trị kiểu hình của tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện môi trường. Theo Nguyễn Văn Thiện (1998) [25], điều kiện môi trường được phân làm hai loại, đó là sai lệch môi trường chung (General Environmental Deviation - Eg) và sai lệch môi trường riêng (môi trường đặc biệt) (Special Environmental Deviation - Es). Như vậy, đối với tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình (Phenotypic Value - P) được biểu thị qua mối quan hệ sau: P = A + D + I + Eg + Es n 8 Như vậy, để nâng cao năng suất vật nuôi ngoài việc cải tiến kiểu gen còn phải tạo ra môi trường thích hợp, đây là cơ sở khoa học để thiết lập một điều kiện ngoại cảnh thích hợp nhằm củng cố phát huy tối đa khả năng di truyền của các giống vật nuôi trong đó có gia cầm. Cơ sở khoa học về việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm 1.
Sinh trưởng * Khái niệm sinh trưởng: Khi còn là hợp tử con vật có khối lượng rất nhỏ, khi trưởng thành ta thấy con vật có sự biến đổi rất lớn về phương diện khối lượng và kích thước. Sự biến đổi này gọi là sự tăng trưởng hay sự sinh trưởng. và được định nghĩa như sau: "Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của cơ thể và các bộ phận trong cơ thể trên cơ sở tính di truyền" (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [18]). Chamber (1990) [41], đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận như thịt, xương, da.
Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng. Sự tăng trưởng thực sự khi các tế bào mô cơ có tăng thêm về khối lượng, số lượng và các chiều đo. Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trưởng, nó được gọi là sự tăng trọng của cơ thể, vì béo mỡ chủ yếu là tích luỹ nước, không có sự phát triển của thân, mô, cơ. Sự tăng trưởng của sinh vật bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ).
Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính. Theo Phùng Đức Tiến (1996) [28], trong n 9 quá trình sinh trưởng thì trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [18] cho biết: theo Driesch.H, 1990 thì sự tăng thể khối của cơ thể là do các tế bào trong cơ thể tăng về số lượng và kích thước. Theo tài liệu của Chambers.R, 1988 [40] thì Mozan (1997) định nghĩa sinh trưởng là tổng hợp sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da.
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành. Để có được số đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng (Chambers. Qua những nghiên cứu cho thấy cơ sở sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sinh sản và tế bào phát triển.