MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nƣớc ta. Hiện nay, tình hình dịch bệnh trên đàn gà đang diễn ra rất phức tạp ở nƣớc ta. Phƣơng thức chăn nuôi gà chủ yếu là chăn thả tự do, nhỏ lẻ, không đảm bảo an toàn sinh học, thƣờng xuyên xảy ra dịch bệnh, gây tổn thất nặng nề về kinh tế.
Để giải quyết vấn đề này, chủ trƣơng của Nhà nƣớc là chuyển đổi phƣơng thức chăn nuôi tự do, nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi bán chăn thả, chăn nuôi tập chung, có kiểm soát, theo hƣớng an toàn sinh học. Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam. Thái Nguyên là tỉnh có điều kiện về khí hậu, đất đai thuận lợi cho chăn nuôi gà. Hiện nay, chăn nuôi gà bán chăn thả đang phát triển mạnh mẽ.
Tuy nhiên, theo điều tra sơ bộ tại 5 xã miền tây của thành phố Thái Nguyên cho thấy chăn nuôi gà chủ yếu là chăn nuôi theo kinh nghiệm truyền thống, chăn thả tự do, thiếu kiểm soát về dịch bệnh, không thực hiện quy trình tiêm vaccine phòng bệnh cho gà, nguy cơ xảy ra và bùng phát dịch bệnh là rất cao. Mặt khác, giống gà đƣợc nuôi nhiều nhất chủ yếu là gà địa phƣơng, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế thấp. Muốn chăn nuôi gà có hiệu quả bền vững, hạn chế tối đa dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh môi trƣờng, cần xây dựng quy trình chăn nuôi gà bán chăn thả theo hƣớng “sạch từ con giống đến quá trình chăn nuôi”. Trong chăn nuôi gà bán chăn thả, mật độ bãi thả có vai trò quan trọng.
Mật độ bãi thả có liên quan đến sự tìm kiếm thức ăn và nƣớc uống trong tự nhiên, tới khả năng vận động của gà thịt để thịt gà săn chắc và thơm ngon phù hợp với khẩu vị của ngƣời tiêu dùng. Mật độ bãi thả thấp, gà ít vận động, tiêu hao năng lƣợng giảm, tập chung vào tích lũy thịt. Mật độ bãi thả cao, hạn chế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 sự nhiễm bẩn, tạo môi trƣờng sống thuận lợi cho gà, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có trên bãi chăn thả, gà vận động nhiều làm tăng chất lƣợng thịt. Vì vậy, mật độ bãi thả có ảnh hƣởng tới sức sản xuất, lợi nhuận của nhà chăn nuôi.
Khi chăn nuôi các giống gà thả vƣờn cần chú ý đến những đặc điểm sinh lý của gà để từ đó điều chỉnh các chỉ tiêu kĩ thuật cho phù hợp, để gia cầm thích nghi đƣợc với những thay đổi của nhiệt độ môi trƣờng. Gà càng lớn, lƣợng khí độc và độ nhiễm bẩn trong chuồng càng cao, trong khi đó lƣợng oxy yêu cầu càng nhiều, vì vậy hệ thống thông thoáng trong chuồng nuôi và mật độ bãi thả cần đảm bảo. Để đánh giá ảnh hƣởng của mật độ bãi thả khác nhau tới sinh trƣởng của gà lai F1 (♂ Ri x ♀ Sasso), xây dựng quy trình chăn nuôi gà bán chăn thả theo hƣớng an toàn sinh học trong nông hộ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến khả năng sản xuất thịt của gà lai F1 (♂ Ri x ♀ Sasso) và gà địa phương trong nông hộ tại Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Ảnh hƣởng của mật độ bãi thả khác nhau đến khả năng sản xuất thịt và hiệu quả kinh tế của gà lai F1 (♂ Ri x ♀ Sasso) nuôi tại nông hộ của thành phố Thái Nguyên.
- Xây dựng mô hình chăn nuôi gà theo hƣớng an toàn sinh học trong nông hộ, giúp ngƣời dân phát triển chăn nuôi gà, tăng hiệu quả kinh tế tại thành phố Thái Nguyên - Kết quả của đề tài cung cấp số liệu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa khoa học của đề tài Xác định đƣợc mật độ bãi thả thích hợp cho gà F1 (Ri x Sasso) nuôi trong nông hộ, phát triển chăn nuôi gà bền vững theo hƣớng an toàn sinh học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở của khoa học về khả năng sinh trƣởng 1. Khái niệm về sinh trưởng Sinh trƣởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lƣợng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trƣớc. Sự sinh trƣởng chính là sự tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trƣởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng, 1992 [32]).
Chamber (1990) [63], đã định nghĩa sinh trƣởng là sự tổng hợp các bộ phận nhƣ thịt, xƣơng, da. Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trƣởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dƣỡng. Sự tăng trƣởng thực sự khi các tế bào mô cơ có tăng thêm về khối lƣợng, số lƣợng và các chiều đo. Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trƣởng, nó đƣợc gọi là sự tăng trọng của cơ thể, vì béo mỡ chủ yếu là tích luỹ nƣớc, không có sự phát triển của thân, mô, cơ.
Sự tăng trƣởng của sinh vật bắt đầu từ khi trứng đƣợc thụ tinh cho đến lúc cơ thể trƣởng thành và đƣợc chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ). Nhƣ vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trƣởng gồm hai quá trình: tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính. Theo Phùng Đức Tiến (1996) [46], trong quá trình sinh trƣởng thì trƣớc hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng, 1992 [32] cho biết: theo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.H, 1990 thì sự tăng thể khối của cơ thể là do các tế bào trong cơ thể tăng về số lƣợng và kích thƣớc.
Theo tài liệu của Chambers.R, 1988 [65] thì Mozan (1997) định nghĩa sinh trƣởng là tổng hợp sinh trƣởng của các bộ phận nhƣ thịt, xƣơng, da. Sinh trƣởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp duy trì từ khi phôi đƣợc hình thành cho đến khi con vật đã trƣởng thành và đƣợc chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trƣởng thành. Để có đƣợc số đo chính xác về sinh trƣởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng (Chambers.L, 1972 [17] thì cƣờng độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hƣởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật.
Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý thì sự sinh trƣởng của các mô cơ diễn ra theo trình tự nhƣ sau: Hệ thống tiêu hóa, nội tiết Hệ thống xƣơng Hệ thống cơ bắp mỡ Thực tế nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sự sinh trƣởng thức ăn dinh dƣỡng đƣợc dùng tối đa cho sự phát triển của xƣơng, mô cơ, một phần rất ít dùng lƣu giữ cho cấu tạo của mỡ. Đến giai đoạn cuối của sự sinh trƣởng nguồn dinh dƣỡng vẫn đƣợc sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơ xƣơng nhƣng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ dinh dƣỡng để cấu tạo mỡ. Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lƣợng cơ chiếm nhiều nhất: 42-45% khối lƣợng cơ thể. Khối lƣợng cơ con trống luôn lớn hơn khối lƣợng cơ con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm).
Giai đoạn 70 ngày tuổi khối lƣợng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Qua những nghiên cứu cho thấy cơ sở sinh trƣởng gồm hai quá trình: tế bào sinh sản và tế bào phát triển. Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm nhƣ ngoại hình, thể chất, sức sản suất đều đƣợc hoàn chỉnh dần trong suốt quá trình sinh trƣởng. Các đặc tính này tuy là một sự tiếp tục thừa hƣởng các đặc tính di truyền của bố mẹ, nhƣng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi trƣờng.
Khối lƣợng cơ thể thƣờng đƣợc theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là kg/con hoặc g/con. Để xác định khối lƣợng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau ngƣời ta còn biểu thị khối lƣợng thông qua đồ thị sinh trƣởng. Khối lƣợng cơ thể ở từng thời kỳ là thông số để đánh giá sự sinh trƣởng một cách đúng đắn nhất, song lại không chỉ ra đƣợc sự khác nhau về tỷ lệ sinh trƣởng của các thành phần trong khoảng thời gian của các độ tuổi. Khi nghiên cứu về sinh trƣởng ngƣời ta thƣờng sử dụng một cách đơn giản và cụ thể một số chỉ tiêu để đánh giá sự sinh trƣởng của gia cầm: - Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lƣợng, kích thƣớc, thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.39,1977 [48]) sinh trƣởng tuyệt đối thƣờng tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần.
Đồ thị sinh trƣởng tuyệt đối có dạng Parabol. Giá trị sinh trƣởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn. - Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên về khối lƣợng, kích thƣớc và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T. Đồ thị sinh trƣởng tƣơng đối có dạng hypebol.
Gà còn non có sinh trƣởng tƣơng đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi. - Đường cong sinh trưởng: Là đƣờng cong biểu thị sinh trƣởng của gia súc, gia cầm nói chung. Theo tài liệu của Chamber.R, 1988 [65] đƣờng cong sinh trƣởng của gà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 thịt có 4 đặc điểm chính gồm 4 pha: + Pha sinh trƣởng tích luỹ tăng tốc nhanh sau khi nở. + Điểm uốn của đƣờng cong tại thời điểm có sinh trƣởng cao nhất.
+ Pha sinh trƣởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn. + Pha sinh trƣởng tiệm cận với giá trị khi gà trƣởng thành. Đồ thị sinh trƣởng tích lũy biểu thị một cách đơn giản nhất về đƣờng cong sinh trƣởng.