Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Cơ sở nghiên cứu khả năng sản xuất của gà thịt * Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể, là sự tăng về các chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật, đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là Protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, Protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, (1992) [19]. * Ảnh hưởng của đặc điểm di truyền, dòng và giống đến sinh trưởng Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia cầm.
Trần Đình Miên và cs (1975) [21] dẫn tài liệu của Swright chia các gen ảnh hưởng đến sinh trưởng của động vật. Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường được như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng…. Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen, do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định.
Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường (Metric character) vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường như mức độ tăng trọng của gà, kích thước các chiều đo, khối lượng trứng. Tuy nhiên, có những tính trạng mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm như: Số trứng đẻ ra/ lứa/ năm, số lợn con đẻ ra /lứa vẫn được coi là tính trạng số lượng. Đó là tính trạng số lượng đặc biệt. Quan hệ giữa kiểu hình P (Phenotype), kiểu gen G (gennotype) và môi trường E (environment) được biểu thị bằng công thức như sau: P=G+E Trong đó: P: là giá trị kiểu hình G: là giá trị kiểu gen E: là sai lệch môi trường n 4 Môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến tính trạng số lượng, trong khi đó đối với tính trạng chất lượng là những tính trạng đơn gen thì rất ít khi bị ảnh hưởng bởi môi trường.
Tác động của các nhân tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, nước uống, không khí… lên tính trạng số lượng rất lớn có thể làm kìm hãm hoặc phát huy và làm thay đổi các giá trị của tính trạng. Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen, các gen này hoạt động theo 3 phương thức: Cộng gộp (A): Hiệu ứng tích lũy của từng gen; Trội (D): Hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một lô cút; Át gen (I): Hiệu ứng do tương tác của các gen không cùng một lô cút Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần. Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) Có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai. Ở các tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và tác động môi trường quy định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành.
G=A+D+I Trong đó: G: là giá trị kiểu gen (geneotypic value) A: là giá trị cộng gộp (additive value) D: là sai lệch do tác động trội lặn (dominancedeviation) I: là sai lệch do tương tác giữa các gen (interaction deviation - Sai lệch tương tác giữa các gen: Là sai lệch do tương tác của các gen không cùng một locus, sai lệch này thường thấy trong di truyền học số lượng hơn là di truyền học Mendel. Ngoài ra, các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường E (environmental). Theo Đặng Hữu Lanh và cs, (1999)[14]; Nguyễn Văn Thiện, (1996)[32] thì căn cứ vào mức độ, tính chất ảnh hưởng lên cơ thể gia súc, gia cầm, môi trường E được chia làm hai loại là sai lệch môi trường chung Eg và sai lệch môi trường riêng Es. + Sai lệch môi trường chung Eg (general environmental deviation) là sai lệch do các yếu tố môi trường có tính thường xuyên và không cục bộ tác động lên toàn bộ các cá thể trong một nhóm vật nuôi.
n 5 + Sai lệch môi trường riêng Es (special environtmental deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường có tính chất không thường xuyên và cục bộ tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi. Tóm lại khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo bởi từ hai locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị như sau: P = A + D + I + Eg + Es Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối lượng trứng. Cơ sở di truyền học của tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Các tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại và sự khác nhau này chính là nguồn vật liệu cung cấp cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo Theo Nguyễn Văn Thiện, (1995)[31].
Theo Dikenson, (1952)[43] thì vấn đề tương tác giữa kiểu di truyền và môi trường rất quan trọng đối với ngành chăn nuôi gia cầm ta thấy rõ muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải tác động về mặt di truyền (G): - Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc - Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách phối giống tạp giao. Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi, người ta sử dụng đại lượng hệ số di truyền (h2). Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [14] khái quát: Hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình. Sự tồn tại của các gen hoặc nhóm gen trong các dòng và giống gia cầm rất khác nhau.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã chứng minh rất rõ vấn đề này. Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) [7] nghiên cứu so sánh chỉ tiêu năng suất của gà thương phẩm thịt 4 giống gà AA, Lohmann, ISA Vedete và Avian nuôi trong cùng một điều kiện cho thấy, chỉ số sản xuất PN của gà broiler tại 49 ngày tuổi ở 4 giống gà là khác nhau: gà broiler AA: 187,97, gà broiler Lohmann: 215,33, gà broiler ISA Vedete: 211,83, gà broiler Avian: 204,95. Với gà lông màu qua các công trình nghiên cứu của Trần Công n 6 Xuân và cs (1997) [39] nghiên cứu hai dòng gà Tam Hoàng 882 và Jang Cun vàng đều cho kết luận rất rõ là các giống khác nhau và thậm chí trong cùng một giống thì các dòng khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau. Sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào loài, giống, tính biệt và đặc biệt cá thể.
Jaap và Moris (1973) [45] đã phát hiện ra những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng. Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [37] sinh trưởng tuyệt đối nhanh nhất là ngỗng, sau đó đến gà tây và vịt. Sinh trưởng của gà và vịt sau tháng thứ ba chậm đi nhiều, còn ngỗng và gà Tây tiếp tục phát triển tới 4-5 tháng. Theo tài liệu tổng hợp của J.Chambers (1990) [42] có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể gà, có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng tới nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ.
Nguyễn Thị Thúy Mỵ (1997) [24] khi nghiên cứu 3 giống gà AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy khối lượng cơ thể của 3 giống khác nhau ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09 g; 2423,28 g và 2305,14 g. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [11] thì sự sai khác về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng từ 13-38%. * Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông: Tính biệt cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới khối lượng cơ thể: gà trống nặng cân hơn gà mái từ 24- 32%. Những sai khác này cũng được biểu hiện về cường độ sinh trưởng, sự quy định không phải do hormon sinh học mà các gen liên kết giới tính.
Sự sai khác về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh so với các dòng phát triển chậm (J.North (1990) kết luận: lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 2 tuần tuổi là 5%, 3 tuần tuổi > 11%, 5 tuần tuổi > 17%, 6 tuần tuổi > 20%, 7 tuần tuổi >23%, 8 tuần tuổi >27% n 7 Theo tài liệu tổng hợp của K.Kushner (1969)[13] thì tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ với sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn gà mọc lông chậm. Yếu tố ngoại cảnh: Nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng chuồng nuôi, chế độ nuôi dưỡng… đều ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống của gia cầm. Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá ngưỡng giới hạn của gia cầm thì chúng sẽ bị rối loạn sinh lý bình thường, bệnh tật phát sinh và có thể chết. Thông thoáng chuồng nuôi không tốt làm tăng hàm lượng khí độc sẽ bất lợi cho sức sống và chúng có thể chết.
Khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, khí hậu, quy trình chăm sóc…) gà lông màu có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên, (1998)[27]. Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu do tác động của môi trường, Brandsh và cs, (1978)[41]. Còn theo tác giả Trần Đình Miên và cs, (1992)[19] thì các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở vùng ôn đới. Theo Trần Long và cs, (1996)[15], tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn gà con (0 - 6 tuần tuổi) đạt 93,3 %.