CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng chăn nuôi vịt hiện nay 1. Trên thế giới Lương thực, thực phẩm và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sống còn của nhân loại.
Ngày nay, nông nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp lương thực và các loại thực phẩm nuôi sống cả nhân loại trên trái đất. Ngành chăn nuôi không chỉ có vai trò cung cấp trứng, thịt sữa là các loại thực phẩm cơ bản cho dân số của cả hành tinh mà còn góp phần làm đa dạng nguồn gen và đa dạng sinh học trên trái đất. Trong những năm qua, các nhà chăn nuôi đã rất nỗ lực nghiên cứu để cải tiến chất lượng thịt và sản phẩm chăn nuôi, đặc biệt là kết hợp các đặc điểm tốt của vật nuôi bằng biện pháp lai giống, họ đã tạo ra nhiều tổ hợp vật nuôi có chất lượng thịt và thân thịt cao, có khả năng kháng bệnh. Do đặc điểm địa lý, khí hậu, truyền thống dân tộc, khả năng đầu tư và trình độ công nghiệp hóa trong chăn nuôi gia cầm cùng với thói quen tiêu dùng… mà đàn gia cầm nói chung phân bố không đồng đều.
Theo thống kê của tổ chức Lương Nông thế giới vào năm 2013 trên 90% đàn vịt được nuôi ở châu Á. [FAO, 2014] Sau dịch cúm gia cầm, nhiều nước chuyển dịch cơ cấu một phần chăn nuôi gia cầm sang chăn nuôi lợn, nhưng chăn nuôi gia cầm vẫn được các nước đang phát triển định hướng với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm tương đối cao: 3,11% cho Trung Quốc, 11,11% cho ấn Độ, 2,40% cho Indonesia, 3,66% cho Philippines, 2,80% cho Liên bang Nga, và Thái Lan là 3,07% năm. Theo số lượng thống kê của tổ chức Nông lương thế giới- FAO năm 2009, số lượng tổng đàn vịt trên thế giới là 1. Trong đó, chăn nuôi vịt nhất Trung Quốc có 771 triệu con, nhì Việt Nam 84 triệu con, ba Indonesia 42,3 triệu, bốn Bangladesh 24 triệu và thứ 5 là pháp có 22,5 triệu con vịt.
Về phương thức chăn nuôi hiện nay của các nước trên thế giới vẫn có ba hình thức cơ bản đó là chăn nuôi theo quy mô công nghiệp thâm canh công nghệ cao, chăn nuôi trang trại và bán thâm canh, chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ và quảng canh. Phương thức chăn nuôi gia cầm quy mô lớn thâm canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao chủ yếu phát triển ở các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, và một số nước ở châu Phi, châu Á, Mỹ La Tinh. Chăn nuôi công nghệ thâm canh các công nghệ cao về cơ 11 giới và tin học được áp dụng trong chuồng trại, cho ăn, vệ sinh, thu hoạch sản phẩm, xử lý môi trường và quản lý đàn. Các công nghệ sinh học và công nghệ sinh sản được áp dụng trong chăn nuôi như lai giống, lai tạo nâng cao khả năng sinh sản và điều kiện giới tính.
Chăn nuôi bán thâm canh và chăn nuôi quảng canh phần lớn ở các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ La Tinh và các nước Trung Đông. Chăn nuôi quảng canh, tận dụng dựa vào thiên nhiên, sản phẩm chăn nuôi năng suất thấp và vấp phải nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường chăn nuôi. [Tình hình chăn nuôi thế giới và khu vực-Dairy Việt Nam] Nạn ô nhiễm môi trường sống và ô nhiễm nguồn nguồn nước, đất do chất thải trong chăn nuôi vịt có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng của vịt nuôi, tăng tỉ lệ mắc bệnh, tăng các chi phí phòng trị bệnh do đó làm cho năng suất chăn nuôi bị giảm, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Đặc biệt là sự bùng phát của dịch cúm gia cầm ở các quốc gia trên thế giới yêu cầu ngày càng phải có một phương thức chăn nuôi phù hợp hơn cho từng nước.
Tháng 2 năm 2009, trang trại Sirathmpitak ở tỉnh Nakhon, phía bắc Thái Lan đã thu hoạch lứa vịt thịt đầu tiên được nuôi khô trong chuồng kín. Kết quả nuôi 120.000 con vịt thịt sau 45 ngày đã cho kết quả khả quan. Khối lượng cơ thể vịt bình quân đạt 3,3 kg/con, tỷ lệ nuôi sống 98,5% và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,4 kg. Kết quả này cao hơn hẳn yêu cầu của công ty cổ phần hữu hạn Bangkok Ranch, công ty lớn nhất trong chăn nuôi vịt ở Thái Lan, đã kí hợp đồng với trang trại Sirathmpitak để thu mua vịt thịt phục vụ chế biến.
[1] Dựa trên các kết quả đó, các nhà khoa học của Việt Nam đã nghiên cứu thử nghiệm và áp dụng các phương pháp chăn nuôi vịt mới, nhưng chỉ với một phần rất nhỏ trong tổng đàn vịt được nuôi, vì phần lớn ở nước ta vịt được chăn thả một cách tự nhiên. Ở Việt Nam Cùng với sự phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng và hiệu quả của các mô hình chăn nuôi khác thì chăn nuôi vịt và các loài thủy cầm khác cũng được quan tâm và có bước phát triển đáng kể. Nhiều giống vịt có năng suất cao đã nhập vào nước ta và như vịt Bắc Kinh (1970), vịt Anh đào Hung (1975, 1983), vịt Szarwas (1990)… đặc biệt là giống vịt siêu thịt CV Super M. (1889, 1990) cho hiệu quả kinh tế cao.
[8] 12 Do chăn nuôi thủy cầm ở Việt Nam gắn bó với nền sản xuất lúa nước nên số lượng thủy cầm Việt Nam đứng thứ hai thế giới, hiện Việt Nam có đàn thủy cầm lớn thứ 2 thế giới với trên 80 triệu con trong đó Đồng bằng sông Hồng chiếm 26,68%, ĐBSCL chiếm 32,19%, khu vực Tây Bắc chiếm 2,17%, Miền Trung chiếm 21% trong tổng đàn thủy cầm của Việt Nam. Trong thập kỷ qua, số vịt tăng bình quân 7%/năm, sản lượng trên 280. Trứng đạt trên 2 tỷ quả/năm. Cơ cấu giữa thủy cầm sinh sản và thủy cầm nuôi thịt thì thịt chiếm 65 - 70%, thủy cầm sinh sản chiếm 30 - 35%.
Việt Nam đang sở hữu một bộ giống thủy cầm rất phong phú, đa dạng, có năng suất và chất lượng cao tuy nhiên việc xuất khẩu thịt thủy cầm còn ít do hạn chế trong khâu chế biến. [Viện chăn nuôi- Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, 2015] Hầu hết các tỉnh, thành trong khu vực ĐBSCL khi xây dựng đề án tái cơ cấu chăn nuôi đều chọn vịt là vật nuôi chính, sau heo. Các tỉnh có phong trào chăn nuôi vịt phát triển mạnh như: Kiên Giang, Đồng Tháp, An Giang, tổng đàn mỗi tỉnh trên 3 triệu con; Long An, Vĩnh Long, Hậu Giang, mỗi tỉnh có trên 2 triệu con, là nguồn cung cấp thịt, trứng cho khu vực, TP.Hồ Chí Minh và cho xuất khẩu. Tổng đàn vịt các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong 3 năm qua có xu hướng giảm nhẹ khoảng 4,32%.
Theo thống kê năm 2014, tổng đàn vịt trong khu vực là 25,45 triệu con, trong đó vịt đẻ 11,22 triệu con. Chăn nuôi vịt ở ĐBSCL chủ yếu theo phương thức nhỏ lẻ, thả rông và chạy đồng (nuôi vịt chạy đồng trước đây rất thịnh hành ở ĐBSCL nhưng hiện nay số lượng đã giảm dần mà thay vào đó là phương thức chăn nuôi thả đồng gần có kiểm soát). Ở nhiều địa phương, chăn nuôi bán công nghiệp (nuôi nhốt kết hợp với thả đồng có đầu tư chuồng trại, thức ăn công nghiệp) đang phát triển và chuyển dần theo hướng trang trại, công nghiệp.[18] Chỉ tính riêng tại Vĩnh Long, tổng đàn vịt thịt của tỉnh đến tháng 4/2015 là 538. Về quy mô chăn nuôi, toàn tỉnh hiện có 4 cơ sở chăn nuôi vịt quy mô từ 3.000 con với tổng đàn 20.000 con; 524 hộ chăn nuôi vịt quy mô từ 500 - 3.000 con với tổng đàn 425.[18] Trước đây, tổng đàn vịt ở Đồng Nai chỉ gần 200 ngàn con, nuôi theo hình thức thả ao, chạy đồng.
Nhưng đến đầu tháng 1-2015, tổng đàn đã tăng lên trên 500 ngàn con. Trong đó, đa phần vịt được nuôi nhốt trong chuồng trên cạn theo dạng công nghiệp. Cách nuôi này giúp vịt nhanh lớn, chỉ gần 2 tháng có thể xuất chuồng. Với mô 13 hình mới này, dịch bệnh được kiểm tra chặt chẽ và đem lại hiệu quả kinh tế khá cao cho người nông dân.
[Hương Giang, Báo Kinh tế Tỉnh Đồng Nai] Mô hình nuôi vịt siêu thịt Super M2 ở tỉnh Long An và An Giang theo hướng an toàn sinh học theo kiểu vịt cá kết hợp, phân vịt có thể làm thức ăn cho cá và ao cá có thể cho vịt bơi lội là mô hình chăn nuôi mới, nhằm mở ra hướng đi mới cho người nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, mô hình không chỉ đem lại lợi nhuận từ việc nuôi vịt mà có thêm nguồn thu nhập từ nuôi cá kết hợp. [Văn Phô, Mô hình nuôi vịt an toàn sinh học hướng đi mới của nông dân ở xã anh hùng Tân An, Báo An Giang] Ở Đồng Tháp cũng áp dụng phương thức nuôi vịt thịt năng suất cao CV Super M, thực hiện theo cách nuôi nhốt tập trung bằng thức ăn viên công nghiệp. Đàn vịt được 45 đến 60 ngày tuổi là có thể bán thương phẩm, hầu hết đều đảm bảo an toàn dịch bệnh và tăng trọng nhanh. Bình quân vịt 2 tháng tuổi đạt trên 3kg/con, tỷ lệ nuôi sống đạt trên 95%.
Với giá vịt thịt ở mức 30.000đ/kg như hiện nay, sau khi trừ chi phí, mỗi ký vịt người nuôi còn lời từ 3. Khái quát về giống vịt Super Meat 1. Nguồn gốc Vịt siêu thịt (hay còn gọi là vịt Super Meat hay vịt Super M, vịt CV) là giống vịt công nghiệp chuyên thịt cao sản được tạo ra thông qua chọn lọc di truyền nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và tỉ lệ thịt nạt của vịt Bắc Kinh do hãng Cherry Valley của nước Anh tạo ra từ năm 1976 và được mang về Việt Nam vào cuối những năm 1989 trong khuôn khổ hoạt động dự án “Nghiên cứu phát triển chăn nuôi vịt VIE- 86-007” do chương trình của liên hợp quốc về phát triển (UNDP) tài trợ.[8] Đây là giống vịt có năng suất thuộc loại cao. Hiện nay, nhà nước Việt Nam đã công nhận giống vịt siêu thịt này là một giống vật nuôi được phép sản xuất, kinh doanh, lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam, áp dụng đối với một số dòng vịt này như Vịt CV (Super M, vịt CV super M2 và M2 (i), Super-M3), giống vịt chuyên thịt M14.
Các dòng Các dòng vịt Super như Super M hay Super Heavy (siêu nặng) có ưu điểm tốc độ sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn nhưng có khả năng cho sản lượng thịt cao. Các giống vịt dòng Super cho năng suất cao hơn giống vịt truyền thống.