Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về tính trạng sản xuất của gia cầm 1. Bản chất di truyền của tính trạng sản xuất Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó. Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể qui định.
Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [1]; Nguyễn Ân (1984) [2], các tính trạng năng suất (trong đó có tốc độ sinh trưởng) là các tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng đo lường được như khối lượng cơ thể, kích thước, chiều đo. Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) [30] cho biết: Các tính trạng số lượng chi phối bởi nhiều gen hay còn gọi đa gen (polygens). Các gen này hoạt động theo 3 phương thức đó là sự cộng gộp, trội, lặn và tương tác giữa các gen. Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen.
Các gen này hoạt động theo ba phương thức: - Cộng gộp (A) hiệu ứng tích luỹ của từng gen. - Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một lô cút. - Át gen (I) hiệu ứng do tương tác, của các gen không cùng một lô cút. Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần.
Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai. Ở các tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và sai lệch môi trường qui định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do 4 nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành. Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, tính trạng sinh sản là một ví dụ (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [39]. Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố tác động của ngoại cảnh.
Tuy các điều kiện bên ngoài không thể làm thay đổi cấu trúc di truyền, nhưng nó tác động làm phát huy hoặc kìm hãm việc biểu hiện các hoạt động của các gen. Các tính trạng số lượng được qui định bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị như sau: P=G+E Trong đó P là giá trị kiểu hình (phenotypic value), G là giá trị kiểu gen (genotypic value), E: là sai lệch môi trường (environmental deviation). Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo ba phương thức: cộng gộp, trội và át gen. Từ đó cũng có thể hiểu: G=A+D+I Trong đó G là giá trị kiểu gen (genotypic value), A là giá trị cộng gộp (additive value), D là giá trị sai lệch trội (dominance deviation value), I: là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation value).
Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường. Có hai loại môi trường chính: - Sai lệch môi trường chung (Eg) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như: thức ăn, khí hậu,. - Sai lệch môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai đoạn nhất định trong cuộc đời con vật.
Loại này có tính chất không thường xuyên. Nếu 5 bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể: P = A + D + I + Eg + Es Qua phân tích cho thấy các giống gia cầm, cũng như các giống sinh vật khác, con cái đều nhận được ở bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó. Tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, nhưng khả năng đó phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống như: chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý,. Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi, người ta sử dụng khái niệm hệ số di truyền (h2).
Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [15] khái quát: Hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình. Tác giả cho biết: Gà 32 tuần tuổi có hệ số di truyền về khối lượng cơ thể là 0,55, khối lượng trứng là 0,50 và sản lượng trứng là 0,10. Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm Tỷ lệ nuôi sống của gà con phụ thuộc vào sức sống của đàn bố mẹ. Gia cầm mái đẻ tốt thì tỷ lệ nuôi sống của gia cầm con cao hơn so với gia cầm đẻ kém.
Khả năng thích nghi, khi điều kiện sống bị thay đổi, như về thức ăn, thời tiết, khí hậu, qui trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh,. của gia súc, gia cầm nói chung, gà lông màu nói riêng có khả năng thích ứng rộng rãi hơn đối với môi trường sống (Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên, 1998) [33]. Có thể nâng cao tỷ lệ sống bằng các biện pháp nuôi dưỡng tốt, vệ sinh, tiêm phòng kịp thời. Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi ở xứ lạnh.
Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm trong cơ sở di truyền năng suất và chọn giống động vật, Hill và cs (1954) [58] đã tính được hệ số di truyền sức sống là 6%. Sức sống được tính theo các giai đoạn nuôi dưỡng 6 khác nhau. Theo tài liệu của Gavora (1990) [56] hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 25%. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng 1.
Khả năng sinh trưởng của gia cầm Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành. Theo Chambers, (1990) [55] để có được số đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải là dễ dàng. Gatner cho rằng: Trong quá trình sinh trưởng, trước hết là kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống (dẫn theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường, 1992 [29]). Chambers (1990 [55]) đã định nghĩa: Sinh trưởng là tổng sự tăng trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da… Trong chăn nuôi người ta thường sử dụng hai chỉ số để mô tả khả năng sinh trưởng ở vật nuôi là sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối.
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabon, sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng gam/con/ngày hay gam/con/tuần. Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng cơ thể, lúc kết thúc khảo sát so với lúc bắt đầu khảo sát. Đơn vị tính là %.
Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hyperbon. Sinh trưởng tương đối giảm dần qua các tuần tuổi. Đường cong sinh trưởng: đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh trưởng của vật nuôi. Theo tài liệu của Chambers (1990) [55] đường cong sinh trưởng của gà có 4 điểm chính gồm 4 pha sau: Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc độ nhanh sau khi nở.
Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất. Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn. 7 Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành. Thông thường người ta sử dụng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi, thể hiện bằng đồ thị sinh trưởng tích luỹ và nó được biết một cách đơn giản đường cong sinh trưởng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm - Dòng, giống Dòng, giống có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm. Letner, Asmundsen (1938) [60] đã so sánh tốc độ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi, cho rằng gà Plymouth Rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn 2 - 6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác nhau. Trần Thanh Vân ( 2002) [50] khi nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của gà lông màu Kabir, Lương Phượng và Sasso cho biết khối lượng cơ thể gà ở 10 tuần tuổi đạt lần lượt là 1990,28 g/con; 1993,27 g/con và 2189,29 g/con. Theo Nguyễn Thị Khanh và cs (2000) [13] gà Tam Hoàng 882 ở 12 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 1557,83 g/con.
Nguyễn Thị Thuý Mỵ (1997) [31] khi nghiên cứu 3 giống gà AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy: khối lượng cơ thể của 3 giống khác nhau ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09g; 2423,28g và 2305,14g. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [9] thì sự sai khác về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng từ 13 - 38%. Nguyễn Thu Quyên (2008) [37] cho biết: ở 12 tuần tuổi khối lượng của gà thí nghiệm vẫn tuân theo quy luật chung, cao nhất ở gà Lương Phượng (2277,28 g), tiếp theo là 2 nhóm gà lai F1 (♂Mông x ♀Lương Phượng) (1545,75 g), F1 (♂Mông x ♀Ai Cập) (1356,88 g) và gà Mông là 1260,18 g, thấp nhất ở gà Ai Cập (1171,51g). Ở gà, hầu hết các giống hướng trứng đều nhẹ hơn các giống hướng thịt 8 tới gần hai lần và giống hướng kiêm dụng 1,3 - 1,7 lần.
Theo Nguyễn Thị Khanh và cs (2001) [14] gà Tam Hoàng 882 ở 12 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 1557,83 g/con. Theo Phùng Đức Tiến (1996) [44] gà Hybro HV85 ở 56 ngày tuổi khối lượng cơ thể đạt 1915,38 g/con. Nguyễn Ân và cs (1983) [1] thông báo hệ số di truyền 3 tháng tuổi là 26 - 50%. + Giới tính có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng Các loại gia cầm khác nhau về giới tính thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái (chim cút con trống nhỏ hơn con mái).
North, Bell (1990) [62] cho biết khối lượng gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng giống đưa vào ấp, song không ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể gà lúc thành thục và cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi.