Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số sống ở nông thôn. Thu nhập chính của họ là từ ngành trồng trọt và chăn nuôi. Trong đó, ngành chăn nuôi gia cầm được ưu tiên phát triển hàng đầu do khả năng đáp ứng nhanh về nhu cầu thịt, trứng. Ngoài ra, chăn nuôi gia cầm còn đóng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển công nghiệp nước ta như công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc.
Tập quán chăn nuôi gia cầm đã gắn bó với nhân dân ta từ lâu đời. Ở nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, hầu như gia đình nào cũng có nuôi một vài con. Trước đây, chăn nuôi gia cầm thường theo phương thức quảng canh tận dụng. Những năm gần đây, xu hướng phát triển ngành chăn nuôi nói chung đã theo con đường thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung.
Nhiều gia đình chăn nuôi với số lượng lên đến hàng vạn con. Đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp đã khắc phục được nhiều đặc điểm của gà ta như về tốc độ sinh trưởng và khả năng sinh sản. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, nước ta đã nhập nhiều giống gà mới như các giống chuyên dụng hướng trứng, hướng thịt có giá trị cao với các dòng ông, bà, bố, mẹ nhằm thay đổi cơ cấu đàn giống gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, bước đầu đạt kết quả tốt. Hiện nay, bên cạnh những giống gà hướng thịt, các giống gà hướng trứng cũng ngày càng được quan tâm chú trọng đầu tư phát triển.
Một trong những giống gà sinh sản có năng suất cao, chất lượng trứng tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu của Việt Nam là giống gà Broiler. Chăn nuôi gà hướng trứng theo con đường thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung ở nước ta đã trở thành một trong những nghề phát n 2 triểnkhá nhanh. Với những thuận lợi có được như hiện nay về các giống gà chuyên dụng, những tiến bộ của ngành chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý. Vấn đề đặt ra là phải tìm ra phương thức nuôi phù hợp mà vẫn đảm bảo khả năng sản xuất của giống.
Trên cơ sở này, tôi tiến hành đề tài: “Áp dụng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn gà thương phẩm nuôi tại Trại gà Công ty Emivest – xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà thương phẩm tại cơ sở - Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà thương phẩm - Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế. - Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi.
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở. Yêu cầu - Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà thương phẩm - Áp dụng được quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà thương phẩm - Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở. - Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2.
Vị trí địa lý Trại gà công ty Emivest – xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình là trại gà thương phẩm với quy mô 60.000 con, được xây dựng năm 2012. Trang trại được xây dựng trên địa bàn xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình với diện tích 21. Xã có địa bàn giáp ranh với 2 tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa, có quốc lộ 12B đi qua. Điều kiện địa lý của xã rất thuận lợi cho việc giao thông, vận chuyển thức ăn cũng như sản phẩm của trại.
Điều kiện khí hậu Trại gà công ty Emivest thuộc tỉnh Hòa Bình, nằm trong khu vực trung du và miền núi bắc bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đó, trang trại chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng và nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ rệt: Mùa hè bắt đầu từ tháng 4, kết thúc vào tháng 9. Nhiệt độ trung bình trên 25ºC, có ngày lên tới 43ºC. Lượng mưa trung bình trong tháng trên 100 mm, mưa tập trung vào tháng 7, 8.
Lượng mưa toàn mùa chiếm 85-90% lượng mưa cả năm. Mùa đông: bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình dao động từ 16 - 20ºC. Có ngày nhiệt độ xuống tới 3ºC.
Lượng mưa trong tháng 10 – 20 mm. Cơ cấu tổ chức của trại Trại gồm có 15 người, trong đó có: 01 quản lý trại. n 4 01 kỹ sư của công ty. Cơ sở vật chất của trại Trại được xây dưng và đầu tư trang thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt và chăn nuôi của trại.
Về cơ sở hạ tầng: Khu nhà ở rộng rãi, thoáng mát có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi. Có phòng khách để đón tiếp khách. Khu nhà ăn được đảm bảo vệ sinh sạch sẽ. Khu chuồng nuôi được xây dựng tách biệt, đảm bảo vệ sinh sát trùng trong quá trình nuôi.
Trại có tổng cộng 6 chuồng nuôi, với diện tích mỗi chuồng đạt 1.400 m2, gồm cả hệ thống kho chứa cám và dụng cụ riêng biệt cho mỗi chuồng. Về cơ sở vật chất Trại có đầy đủ các trang thiết bị, máy móc phục vụ sinh hoạt hàng ngày: bình nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt. Cơ sở vậy chất chuồng trại luôn được chú trọng đầu tư với đầy đủ các thiết bị cần thiết: máng ăn, núm uống tự động, đèn sưởi, lò sưởi. Có hệ thống quạt gió, dàn mát, đén chiếu sáng.
Ngoài ra, trại còn có 2 máy phát điện công suất lớn phục vụ công tác chăn nuôi và sinh hoạt của trại khi mất điện. Thuận lợi và khó khăn của trại Thuận lợi Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi, cách xa khu dân cư, gần đường quốc lộ 12B nên có giao thông thuận lợi. n 5 Quản lý trại có năng lực, trách nhiệm trong công việc. Luôn quan tâm đến đời sống tinh thần và vật chất của công nhân.
Cán bộ kỹ thuật có chuyên môn vững vàng, đi cùng đó là đội ngũ công nhân nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc. Trại được công ty cung cấp nguồn con giống và thức ăn đảm bảo chất lượng. Khó khăn Số lượng gà nuôi lớn nên cần đảm bảo mọi công tác luôn được hoạt động nhịp nhàng, trôi chảy. Trại được xây dựng tại khu vực trung du miền núi, nằm trong đới khí hậu gió mùa nên thời tiết thay đổi liên tục, làm cho việc phòng bệnh trở nên khó khăn.
Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nƣớc có liên quan đến nội dung của chuyên đề 2. Đặc điểm sinh học về gia cầm Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại. Gia cầm có nhiều đặc điểm giống với bò sát đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xương nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ trứng sau ấp nở thành gia cầm non. Quá trình trao đổi chất của gia cầm lớn thân nhiệt cao (40 – 42oC) nhờ đó mà gia cầm sinh trưởng nhanh.
Gia cầm có cấu tạo đầy đủ các cơ quan bộ phận như: hệ tiêu hóa, hô hấp, bài tiết, tuần hoàn, sinh dục. Những cấu tạo giải phẫu sinh lý của gia cầm lại có nhiều đặc điểm khác với gia súc. Đặc biệt là hệ hô hấp và tiêu hóa. Hệ hô hấp của gia cầm gồm: xoang mũi, khí quản, phế quản phổi và 9 túi khí chính nhờ đó mà cơ thể gia cầm nhẹ có thể bay được, bơi được, hơn nữa dịch hoàn của gia cầm nằm trong cơ thể mà quá trình sinh sản vẫn bình thường.
Hệ tiêu hóa cũng có nhiều điểm khác về cấu tạo chức năng. n 6 Hệ tiêu hóa bao gồm: khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng, lỗ huyệt, tuyến tụy và gan. Khoang miệng của gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy, thu nhận thức ăn, không có tác dụng nghiền nhỏ. Thức ăn vào miệng được bôi trơn bằng các dịch nhầy ở khoang miệng do tuyến nước bọt tiết ra, trong nước bọt có enzym tiêu hoá tinh bột α -amilaza nhưng hoạt động yếu, sau đó thức ăn được nuốt xuống thực quản.
Thực quản phình to tạo thành diều, diều không có tuyến tiết dịch tiêu hoá, nhưng quá trình tiêu hoá tinh bột vẫn diễn ra nhờ enzym amilaza của nước bọt chuyển xuống. Trong diều thức ăn được thấm ướt, làm mềm và một phần hydratcacbon được phân hủy dưới tác dụng của men amilaza (quá trình đường hóa) tạo ra quá trình vi sinh vật diều. Thức ăn từ diều qua dạ dày tuyến tương đối nhanh. Dịch vị của dạ dày tuyến có HCL và men pepxin tham gia phân giải protein thành pepton, sự tiêu hoá này chỉ ở mốc sơ bộ, sau đó thức ăn đã được tẩm dịch và men nhanh chóng chuyển xuống dạ dày cơ.
Dạ dày cơ không tiết enzym tiêu hoá, mà chủ yếu là nghiền nát thức ăn, nhào trộn tẩm dịch nhầy, nước và men vào thức ăn, làm tăng độ mềm ở dạ dày cơ, dưới tác dụng của HCL và men pepxin protein tiếp tục được phân hủy, hydratcacbon cũng được phân giải nhờ tác dụng của vi sinh vật trong thức ăn. Thức ăn từ dạ dày cơ được chuyển xuống ruột non dưới tác dụng của dịch ruột, dịch tụy và dịch mật các chất dinh dưỡng cơ bản trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu. Ở ruột non quá trình tiêu hóa diễn ra là chủ yếu, gluxit được phân giải thành đường đơn, lipit thành glyxerin và axit béo, protein thành các peptid và các axit amin để cơ thể hấp thu và lợi dụng được. n 7 Ở ruột già quá trình phân giải các chất các chất đạm, tinh bột còn lại từ một non đưa xuống ruột già vẫn được tiếp tục nhờ các enzym tiêu hoá từ ruột non và được hấp thu vào máu qua màng vào ruột già.
Quá trình tiêu hóa chất xơ của gia cầm cũng nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật lên men nhưng hoạt động kém, chất xơ được tiêu hoá thành đường glucozơ và hấp thu vào máu qua màng manh tràng ở ruột già, đặc biệt ở ruột già có sự tổng hợp vitamin nhóm B nhờ hệ vi sinh vật.