Đặt vấn đề Từ trước đến nay ngành chăn nuôi gà mang ý nghĩa quan trọng trong cơ cấu kinh tế của ngành nông nghiệp. Ngành chăn nuôi gà đã đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt cho người chăn nuôi, đã có nghiều người giàu lên nhờ chăn nuôi gà (ngành chăn nuôi gà đã góp một phần vào: giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân,….), ngành chăn nuôi gà của nước ta hiện nay không chỉ cung cấp đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu đã đem lại một nguồn thu ngoại tệ cho lớn cho nền kinh tế nước ta. Qua số liệu năm 2009 nước ta có 200 triệu con gà với sản lượng 40 triệu tấn với doanh thu đạt 70,8 triệu USD. Theo thống kê của Tổ chức lương thực thế giới (FAO), Việt Nam là một nước nuôi nhiều gà, đứng hàng thứ 13 thế giới và vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
Với nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì ngành nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí quan trong trong lền kinh tế nước ta hiện nay. Trong những năm gần đây với mục tiêu thực hiện công nghiệp- hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo chủ trương của Đảng và Nhà Nước, ngành chăn nuôi đã có được sự đầu tư về khao học kỹ thuật, vốn, đưa giống mới có năng suất, chất lượng hiệu quả cao vào sản xuất góp phần vào thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn. Với những chính sách thuận lợi và phù hợp của nhà nước, nên ngành chăn nuôi gà đã và đang phát triển mạnh mẽ với rất nhiều trại nuôi gà với nhiều quy mô. Đứng trước nhu cầu về con giống của nhân dân, nước ta đã cho nhập hàng loạt giống gà lông màu như: Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, Ai Cập,… Trong đó có giống gà Isabrown được nhập về nước ta từ Pháp, cũng đang được phát triển với nhiều quy mô trang trại lớn.
Đây là giống gà cho sản lượng trứng cao, với tỷ lệ đẻ cao mang lại hiệu e 2 quả kinh tế cao cho người chăn nuôi. Để nâng cao hơn về hiệu quả kinh tế mà giống gà này đem lại em đã nghiên cứu và làm đề tài: “Ảnh hưởng của mùa vụ tới khả năng sản xuất của gà Isabrown giai đoạn hậu bị nuôi trong chuồng kín tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên” 1. Mục đích nghiên cứu - Bản thân làm quen với công tác nghiên cứu khoa học về chăn nuôi. - Hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà hậu bị theo phương thức công nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá mức độ ảnh hưởng của mùa vụ tới khả năng sinh trưởng và phát triển của gà Isabrown giai đoạn hậu bị - Đánh giá khả năng sản xuất và hiệu quả kinh tế của gà Isabrown. Ý nghĩa của đề tài - Căn cứ vào mùa vụ thời tiết biết được khả năng sinh trưởng và phát triển của gà Isabrown. Góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi - Các hộ nông dân có thể ứng dụng kết quả để sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Ý nghĩa khoa học - Kết quả của đề tài khuyến cáo bổ ích cho các tập thể, hộ gia đình, các cá nhân chăn nuôi gà Isa Brown trong chuồng kín theo hướng công nghiệp.
- Góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nông dân, phát triển kinh tế xã hội địa phương. - Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ giảng dạy và các nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn - Cơ sở khoa học để khuyên người dân cách nuôi dưỡng và chăm sóc gà có hiệu quả qua từng mùa. e 3 - Góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà Isabrown bằng việc chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý.
- Các hộ nông dân có thể ứng dụng kết quả để sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học và của đề tài Trong chăn nuôi để đánh giá được hiệu quả kinh tế, năng suất của vật nuôi ta cần đưa ra một số chỉ tiêu như: nguồn gốc của gà, bản chất di chuyền các tính trạng sản xuất, sức sống và khả năng chống đỡ bệnh tật, đặc biệt là khả năng sinh trưởng, khả năng sử dụng và chuyển hóa thức ăn, vai trò của một số chất dinh dưỡng trong thức ăn, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh sản gia cầm * Buồng trứng: Buồng trứng là nơi hình thành lòng đỏ - tế bào trứng.
Tế bào trứng rất giàu chất dinh dưỡng, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển của phôi thai. Các bộ phận khác của trứng như: lòng trắng, màng vỏ, vỏ cứng là do ống dẫn trứng tạo ra (Ngô Giản Luyện và cs, 1994) [9]. Trong thời kỳ đầu ấp trứng, cả hai buồng trứng trái và phải đều hình thành phát triển. Nhưng ngày ấp trứng thứ 5 đến 7, buồng trứng trái phát triển lớn hơn buồng trứng bên phải, đến khi gia cầm trưởng thành, chỉ có một buồng trứng và ống dẫn trứng trái phát triển và hoạt động chức năng.
Còn buồng trứng và ống dẫn trứng bên phải không phát triển. Số lượng tế bào trứng trong buồng trứng rất lớn, buồng trứng gà có khoảng 586 - 3605 tế bào trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau và trọng lượng buồng trứng thay đổi theo trạng thái chức năng (tuổi) (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [8]. * Ống dẫn trứng: Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lý, ống dẫn trứng được chia làm 5 phần: loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung và âm đạo. Ống dẫn trứng của gà dài khoảng 10 - 20 cm, đường kính 0,3 - 0,8 mm, khi đẻ e 5 trứng với cường độ cao có thể dài 40 - 60 cm, đường kính khoảng 1 mm (Trần Thanh Vân và cs, 2015)[8] * Sơ lược cấu tạo trứng và sự hình thành trứng: Trứng gia cầm là một loài tế bào sinh sản khổng lồ bao gồm: vỏ cứng, màng vỏ, lòng trắng và lòng đỏ.
Vỏ trứng bao bọc bên ngoài lòng trắng, lòng đỏ. Phía ngoài cùng của vỏ trứng được phủ một lớp keo dính do âm đạo tiết ra, có tác dụng làm giảm ma sát, tạo điều kiện dễ dàng cho việc đẻ trứng và ngăn chặn sự xâm nhập tạp khuẩn vào trứng, đồng thời cũng có tác dụng làm giảm sự bốc hơi nước của trứng gà. Thành phần chủ yếu của vỏ trứng là vỏ cứng, độ dầy trung bình 0,2 - 0,6 mm và không đều: dày nhất ở phần đầu nhỏ, giảm dần tới thành bên và mỏng nhất ở phần đầu to của quả trứng. Trên bề mặt của vỏ trứng có nhiều lỗ khí.
Dưới lớp vỏ là hai lớp màng đàn hồi đều có tính truyền khí, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình trao đổi khí giúp phôi phát triển. Tỷ lệ phần vỏ, màng vỏ so với khối lượng trứng chỉ chiếm 10 - 20%. Lòng trắng chiếm 56% gồm 4 lớp thành phần và tỷ lệ: lớp loãng ngoài 23%, lớp đặc giữa 57%, lớp loãng giữa 17%, lớp đặc trong 3%, những chỉ số này dao động phụ thuộc vào đặc điểm giống loài và cá thể. Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm, có dạng hình cầu, đường kính khoảng 35 - 40 cm, khối lượng chiếm 32% so với khối lượng trứng.
Lòng đỏ có cấu tạo bao gồm: màng nguyên sinh chất và nhân. Màng tế bào mỏng, dao động trong khoảng 16 - 20 µ, có tính đàn hồi và thẩm thấu chọn lọc. Nguyên sinh chất chứa bào quan: ty thể, lạp thể, lưới golgi, trung tâm tế bào, thể vùi, các axit amin, protein, gluxit, lipit, phức hợp liporotein. Trung tâm nguyên sinh chất có hốc lòng đỏ - là nơi thu hút, tập trung chất dinh dưỡng để phôi phát triển giai đoạn đầu.
Nhân tế bào hình tròn, màu nhạt hơn nguyên sinh e 6 chất và nằm trên nguyên sinh chất. Trong nhân chứa ADN, ARN và các đôi nhiễm sắc thể. * Sơ lược cấu tạo trứng và sự hình thành trứng: Trứng gia cầm là một loài tế bào sinh sản khổng lồ bao gồm: vỏ cứng, màng vỏ, lòng trắng và lòng đỏ. Vỏ trứng bao bọc bên ngoài lòng trắng, lòng đỏ.
Phía ngoài cùng của vỏ trứng được phủ một lớp keo dính do âm đạo tiết ra, có tác dụng làm giảm ma sát, tạo điều kiện dễ dàng cho việc đẻ trứng và ngăn chặn sự xâm nhập tạp khuẩn vào trứng, đồng thời cũng có tác dụng làm giảm sự bốc hơi nước của trứng gà. Thành phần chủ yếu của vỏ trứng là vỏ cứng, độ dầy trung bình 0,2 - 0,6 mm và không đều: dày nhất ở phần đầu nhỏ, giảm dần tới thành bên và mỏng nhất ở phần đầu to của quả trứng. Trên bề mặt của vỏ trứng có nhiều lỗ khí. Dưới lớp vỏ là hai lớp màng đàn hồi đều có tính truyền khí, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình trao đổi khí giúp phôi phát triển.
Tỷ lệ phần vỏ, màng vỏ so với khối lượng trứng chỉ chiếm 10 - 20%. Lòng trắng chiếm 56% gồm 4 lớp thành phần và tỷ lệ: lớp loãng ngoài 23%, lớp đặc giữa 57%, lớp loãng giữa 17%, lớp đặc trong 3%, những chỉ số này dao động phụ thuộc vào đặc điểm giống loài và cá thể. Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm, có dạng hình cầu, đường kính khoảng 35 - 40 cm, khối lượng chiếm 32% so với khối lượng trứng. Lòng đỏ có cấu tạo bao gồm: màng nguyên sinh chất và nhân.
Màng tế bào mỏng, dao động trong khoảng 16 - 20 µ, có tính đàn hồi và thẩm thấu chọn lọc. Nguyên sinh chất chứa bào quan: ty thể, lạp thể, lưới golgi, trung tâm tế bào, thể vùi, các axit amin, protein, gluxit, lipit, phức hợp liporotein. Trung tâm nguyên sinh chất có hốc lòng đỏ - là nơi thu hút, tập trung chất dinh dưỡng để phôi phát triển giai đoạn đầu. Nhân tế bào hình tròn, màu nhạt hơn nguyên sinh e 7 chất và nằm trên nguyên sinh chất.
Trong nhân chứa ADN, ARN và các đôi nhiễm sắc thể. * Sự hình thành trứng trong ống dẫn trứng: Quá trình hình thành trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, có sự điều chỉnh hoocmon. Tế bào trứng thành thục tách khỏi buồng trứng, chuyển vào túi lòng đỏ hoặc trực tiếp vào loa kèn. Lòng đỏ dừng lại ở loa kèn khoảng 20 phút, sau đó di chuyển xuống dưới và dần dần hình thành dây chằng lòng đỏ.