Đặt vấn đề Đậu tương (đỗ tương, đậu nành) tên khoa học là Glycine Max (L) Merr. là cây trồng cạn ngắn ngày, có giá trị cao về nhiều mặt. Đậu tương là cây trồng luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và cs,1999)[3]; là một trong những loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao: hàm lượng protein trung bình 35,5 - 40%, cao hơn trong ngô (9,8 - 13,2%), gạo (6 - 12%), thịt bò (21%)…; hàm lượng lipit từ 15 - 20%; hydratcacbon từ 15 - 16%, … và nhiều loại muối khoáng quan trọng cho sự sống (Trần Văn Điền, giáo trình Cây đậu tương)[4], hàm lượng axit quan trọng chứa lưu huỳnh như methionine, cysteine trong đậu tương cao gần bằng trong trứng gà; hàm lượng lysine cao gấp 1,5 lần trong trứng…Trong đậu tương còn có nhiều loại vitamin như A, B, C, D, PP… đặc biệt trong hạt đậu tương đang nảy mầm có rất nhiều vitamin C. Trong y học, đậu tương được coi như một loại thực phẩm cứu tinh cho bệnh nhân xơ vữa động mạch và cao huyết áp; các chất genistein, isoflavone có nhiều trong hạt đậu nành có đặc tính chống oxy hóa giúp ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư và ở phụ nữ, nó sẽ có tác động trong việc phòng ngừa ung thư vú trong khi ở nam giới là ung thư tuyến tiền liệt,…(https://khoahoc.tv/7-dieu-tuyet-voi-ma-dau-tuong-mang-lai-cho-suc- khoe-cua-ban)[12].
Trong công nghiệp, đậu tương là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như ép dầu, chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, chất đốt lỏng, dầu bôi trơn… (Trần Văn Điền, giáo trình Cây đậu tương)[4]. Năm 1960 diện tích trồng đậu tương trên thế giới là 21 triệu ha thì đến năm 2013 đã tăng lên, đạt 111,27 triệu ha, năng suất đạt 24,84 tạ/ha, sản lượng đạt 276,41 triệu tấn (FAOSTAT, 2017)[11]. Ở Việt Nam, đậu tương là cây trồng c 2 có vai trò quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải tạo đất, cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành chế biến. Hơn nữa, cây đậu tương lại thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới nước ta, do đó, chúng ta nên xem xét để khai thác lợi thế này trong chiến lược phát triển kinh tế.
Tuy nhiên theo thống kê, diện tích trồng đậu tương của nước ta đang giảm dần đi: năm 2000, cả nước có 124,1 nghìn ha trồng đậu tương, năm 2004 diện tích trồng tăng lên 183,8 nghìn ha, và đến năm 2014 sơ bộ trên cả nước còn 110,2 nghìn ha trồng đậu tương (Tổng cục Thống kê,2017)[7]. Đặc biệt, Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc, có những điều kiện thuận lợi cho phát triển cây đậu tương nhưng diện tích trồng đậu tương lại giảm mạnh: năm 2004, diện tích đậu tương trên toàn tỉnh là 3,6 nghìn ha, đến năm 2014, trên toàn tỉnh chỉ còn 1,2 nghìn ha gieo trồng đậu tương. Nguyên nhân chính là do năng suất đậu tương chưa cao. Giống đậu tương ĐT51 là một giống mới được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc, theo quyết định số 218/QĐ-TT-CCN ngày 15 tháng 6 năm 2012, được coi là giống có tiềm năng năng suất cao và cần có những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật cho giống trên đất địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Từ những yêu cầu thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Xác định được mật độ trồng thích hợp cho sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 trong vụ hè thu tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu + Đánh giá đặc điểm nông sinh học của giống đậu tương ĐT51 qua các mật độ khác nhau. c 3 + Đánh giá một số đặc điểm sinh lý của giống đậu tương ĐT51 qua các mật độ khác nhau.
+ Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 qua các mật độ khác nhau. + Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 qua các mật độ khác nhau. Ý nghĩa của đề tài + Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích lũy kinh nghiệm trong sản xuất. + Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ xác định được mật độ trồng thích hợp cho giống đậu tương ĐT51 tại Thái Nguyên; là tài liệu khoa học để giáo viên và sinh viên trong ngành tham khảo.
+ Qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ đưa ra được mật độ thích hợp để giống cho năng suất cao, phù hợp với vụ hè thu tại Thái Nguyên, từ đó bố cáo cho nông dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. c 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài 2. Cơ sở khoa học Mật độ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lấy nước và dinh dưỡng; khả năng nhận ánh sáng để quang hợp và phát triển của cây, do đó trực tiếp chi phối đến năng suất cây trồng nói chung cũng như năng suất đậu tương nói riêng.
Bên cạnh đó, những giống cây khác nhau lại chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh khác nhau, bị chi phối bởi mật độ khác nhau. Mật độ thích hợp đối với từng giống cây là yếu tố quan trọng quyết định năng suất cây trồng, hiệu quả kinh tế mà cây trồng mang lại. Để có được mật độ thích hợp đối với từng giống đậu tương trong từng vùng sản xuất thì công tác nghiên cứu, thử nghiệm mật độ là vô cùng quan trọng. Đó là một cuộc thí nghiệm đưa ra nhiều mật độ khác nhau nhằm xác định ảnh hưởng của yếu tố đó lên giống khác nhau như thế nào trong cùng một điều kiện của địa phương, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một giống đậu tương.
Nếu không nghiên cứu về mật độ thích hợp đối với giống đậu tương thì ta không thể tìm ra biện pháp phù hợp nhằm thâm canh tăng năng suất đậu tương, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế. Cơ sở thực tiễn Sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên chưa phát triển mạnh do hiệu quả sản xuất chưa cao. Có nhiều nguyên nhân như năng suất thấp, đầu tư cao mà giá bán không cao, giá cả bấp bênh, hiệu quả kinh tế thấp, sâu bệnh hại … Trong đó nguyên nhân chính là mật độ trồng chưa thích hợp để tạo điều kiện cho cây đậu tương có điều kiện sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao c 5 nhất, giảm đi chi phí về đầu tư giống, dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, giống đậu tương ĐT51 là một giống mới được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc nên chưa có nhiều nghiên cứu về mật độ thích hợp cho giống.
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng ta cần nghiên cứu mật độ thích hợp đối với giống đậu tương ĐT51 sao cho phù hợp với điều kiện của vùng, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới và ở Việt Nam 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là cây trồng có giá trị cao về nhiều mặt, đem lại hiệu quả kinh tế cao nên được trồng rất phổ biến và rộng rãi trên khắp các châu lục. Cây đậu tương có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Trung Quốc, có nguyên sản tại Châu Á nhưng được gieo trồng chủ yếu tập trung ở Châu Mỹ với 86,4% diện tích, ở Châu Á có 10,6% diện tích và 3% còn lại ở Châu Âu và Châu Phi (FAOSTAT, 2017)[11].
Cây đậu tương đã trở thành cây trồng quan trọng thứ 4 sau lúa nước, ngô và lúa mì. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới những năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 102,8 25,8 265,0 2011 103,9 25,2 261,6 2012 105,5 22,9 241,7 2013 111,2 25,0 277,7 2014 117,5 26,1 306,5 (Nguồn:FAOSTAT, 2017)[11] c 6 Nhận xét: Qua bảng 2.1 trên ta thấy: Về diện tích: Trong những năm gần đây, diện tích trồng đậu tương trên thế giới đang có xu hướng tăng đều qua các năm, và tăng mạnh từ năm 2012 tới nay, từ 105,5 triệu ha (2012) lên 117,5 triệu ha (2014). Sau 3 năm, diện tích trồng đậu tương tăng 12,1 triệu ha, tương đương 11,45%, so với những năm 2012 và mỗi năm trung bình diện tích tăng thêm 9,5% so với năm trước. Qua bảng số liệu có thể nhận thấy xu hướng diện tích trồng đậu tương sẽ ngày càng tăng trong thời gian tới.
Về năng suất: Năng suất không ổn định theo 1 hướng tăng hoặc giảm mà luôn dao động. Nhìn chung năng suất đậu tương trong 5 năm gần đây nhất luôn nằm trong khoảng từ 23 đến 26 tạ/ha. Năm 2012 là năm có năng suất thấp hơn cả, chỉ đạt 22,9 tạ/ha, đến năm 2013 đã có một bước nhảy vọt, năng suất đậu tương trên thế giới đã tăng 2,1 tạ/ha và duy trì đến năm 2014 tăng 1,1 tạ/ha so với năm trước đó (năm 2013). Về sản lượng: Do diện tích gieo trồng vẫn tăng nhưng năng suất dao động nên sản lượng đậu tương trong những năm gần đây cũng có những biến động đáng kể.
Năm 2011, sản lượng đậu tương giảm gần 3 triệu tấn so với thống kê năm 2010 (từ 265,0 triệu tấn xuống 261,6 triệu tấn), và giảm mạnh hơn trong năm 2012 (tiếp tục giảm thêm 19,9 triệu tấn so với năm 2011). Trong năm tiếp theo, năm 2013, sản lượng đã tăng đáng kể, tăng 36,0 triệu tấn. Sự tăng vọt này cũng là nhờ tăng lên cả về năng suất và diện tích gieo trồng. Nhìn chung, từ năm 2012 đến năm 2014, sản lượng có hướng tăng đều theo diện tích gieo trồng và năng suất.
Trên thế giới, đậu tương được trồng nhiều ở Châu Mỹ chiếm tới 86,4% diện tích trồng đậu tương trên toàn thế giới, tiêu biểu như các nước Mỹ, Brazil; Châu Á với 10,6% diện tích canh tác đậu tương lại tập trung chủ yếu ở Trung Quốc.2: Tình hình sản xuất đậu tƣơng ở Mỹ những năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ / ha) (triệu tấn) 2010 31,0 29,2 90,6 2011 29,9 28,2 84,2 2012 30,8 26,9 82,8 2013 30,9 29,6 91,4 2014 33,4 32,0 10,9 (Nguồn:FAOSTAT, 2017)[11] Qua bảng 2.