Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các thông tin về cỏ Stylo 1. Tên gọi và phân loại cỏ Stylo Stylosanthes t hu ộc bộ Fabales, họ Fabaceae, phân họ Faboideae, tông Aeschynomeneae, chi Stylosanthes Sw. Là một chi thực vật có hoa được sử dụng rộng rãi làm thức ăn cho gia súc ở các vùng nhiệt đới.
Nguồn gốc Cỏ Stylo có nguồn gốc từ Nam Mỹ, được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Tây Ấn Độ, Hawii và một số nước Châu Phi, phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ. Năm 1930 cỏ Stylo đã được nhập vào Australia từ Brasil. Năm 1967 từ Singapore và Australia, cỏ Stylo đã được nhập lần đầu vào Việt Nam. Những giống cỏ Stylo đang được gieo trồng phổ biến nhất là: Stylosanthes guianensis (common Stylo), Stylosanthes Hamata (Caribbcan Stylo), Stylosanthes Scabra (Shrubby Stylo), Stylosanthes Humilis (Townsville Stylo).
Năng suất chất xanh Toàn bộ khối lượng chất xanh thu được trên một đơn vị diện tích gọi là năng suất chất xanh. Cỏ Stylosanthes gần đây được nhiều nhà khoa học quan tâm và đến nay đã trở thành cây thức ăn thô xanh họ đậu nhiệt đới thành công nhất trên toàn thế giới. Theo Cameron và cs (2004) [38], cỏ Stylosanthes rất có giá trị trong hệ thống sản xuất nông nghiệp và môi trường. Trên thế giới, cỏ Stylosanthes đạt năng suất chất xanh từ 15 - 20 tấn/ha khi được trồng tại Brazil; 35 tấn/ha/năm khi được trồng tại Zaire.
Theo Ecoport (2001) [84], cỏ Stylosanthes trồng tại Madagascar sau 1 năm thu hoạch được 43 tấn/ha trên vùng đất cao và 70 tấn/ha ở vùng đất thấp. n 5 Tại Thái Lan, Satjipanon và cs (1995) [74] cho biết: sản lượng của cỏ Stylo CIAT 184 là 12 - 17 tấn CK/ha/năm. Cỏ Stylo Ubon và Stylo CIAT 184 năm thứ nhất cho sản lượng 13 tấn CK/ha/năm; năm thứ hai là 18 tấn CK/ha/năm và năm thứ 3 là 17 tấn CK/ha/năm. Trong đó cỏ Stylo Seca trong 3 loại Stylosanthes lâu năm cho sản lượng thấp nhất là 4,7 tấn CK/ha/năm ở năm thứ nhất; 10,6 tấn CK/ha/năm ở năm thứ 2 và 6,7 tấn CK/ha/năm ở năm thứ ba.
Ở Việt Nam, những năm trước đây, cỏ Stylosanthes cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và kết luận rằng: năng suất sẽ khác nhau nếu được trồng ở vùng chăn nuôi, có mức phân bón, nước tưới và đất đai… khác nhau. Theo Lê Hòa và Bùi Quang Tuấn (2009) [8], năng suất chất xanh của cỏ Stylo CIAT 184 được trồng tại Đắc Lắc đạt 12,34 tấn/ha/lứa; cho năng suất 3,08 tấn CK/ha/lứa (tương ứng với 21,56 tấn/ha/năm) cao hơn so với các vùng sinh thái khác của Việt Nam. Theo Lê Hà Châu (1999) [1], cỏ Stylo Cook trồng trên đất xám Bình Dương năng suất chất xanh đạt 21 tấn/lứa cắt/ha. Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi và cs (2008) [16], cỏ Stylo Plus có năng suất VCK từ 13,6 đến 19,2 tấn/ha/năm cao hơn năng suất của giống Stylo Cook (12,5 tấn VCK/ha/năm) trong nghiên cứu của Trương Tấn Khanh và cs (1999) [13].
Cỏ Stylosanthes CIAT 184 trồng tại Nghĩa Đàn theo công bố của Hoàng Văn Tạo và Nguyễn Quốc Toản (2010) [24], đạt sản lượng thức ăn xanh từ 52,5 đến 65,2 tấn/ha ở 3 mức phân hữu cơ và 2 mức phân hóa học khác nhau. Hoàng Văn Tạo và Nguyễn Quốc Toản (2010) [24], còn cho biết cùng nghiên cứu này trên cỏ Stylo Plus năng suất chất xanh đạt từ 49,7 đến 62 tấn/ha; năng suất protein đạt 1,99 đến 2,53 tấn/ha; năng suất chất khô đạt từ 11,7 đến 14,92 tấn/ha ở 3 mức phân hữu cơ và 2 mức phân hóa học khác nhau. Nếu sử dụng đạm 50 - 70kg ure cho cỏ Stylo CIAT 184 thì sản lượng trung bình đạt từ 58,8 - 58,9 tấn/ha/năm (Hoàng Văn Tạo và cs, 2010) [24]. n 6 Theo Trần Ngọc Ngoạn và cs (2007) [19], năng suất chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 5 - 14,5 tấn CK/ha/năm (25 - 60 tấn/ha/năm).
Stylo là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng bổ sung cho gia súc ăn cỏ và đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ để bổ sung cho các loài khác như gia cầm. Năng suất chất xanh của cỏ Stylosanthes còn phụ thuộc rất nhiều vào thời gian thu cắt. Theo Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (2002) [7], thời gian thu cắt của cỏ Stylosanthes gracilis HBK sau khi trồng 4 - 5 tháng, cây cao 50 - 60 cm cắt lứa đầu, lứa đầu không để già. Cắt lần khác sau 60 - 70 ngày (vụ hè thu) và 90 - 100 ngày (vụ đông xuân).
Như vậy, cỏ Stylo phát triển tốt ở các nước nhiệt đới, năng suất chất lượng của cỏ phụ thuộc vào các điều kiện khách quan và các yếu tố như là: khí hậu, vị trí địa lý, đất đai, điều kiện phân bón, thời gian thu cắt…. Có thể trồng cỏ Stylo bằng hạt hoặc trồng bằng cành giâm. Năng suất trên mỗi ha từ 40 đến 50 tấn mỗi năm. Thời gian gieo trồng: từ tháng 3 đến tháng 6.
Thu hoạch từ tháng 6 đến tháng 12. Trồng một lần có thể thu hoạch 4 - 5 năm. Thành phần hóa học của bột cỏ Stylo Theo Norton và Poppi (1995) [65], cây họ đậu là cây thức ăn xanh chứa tỷ lệ protein thô khá cao (15 - 30% chất khô), khoáng chất và vitamin cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi. Đối với cỏ Stylosanthes cùng việc nghiên cứu năng suất các nhà khoa học cũng tập trung đánh giá thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của nó.
Ở nước ta, các nhà khoa học cũng có những nghiên cứu về thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylosanthes đã được công bố. * Protein: Theo Nguyễn Thị Mùi và cs (2006) [17], nghiên cứu giống cỏ Stylo Plus tại Thái Nguyên, Ba Vì và Lâm Đồng cho kết quả hàm lượng protein n 7 bình quân đạt 17%. Đặng Thúy Nhung (2008) [21] cho biết: hàm lượng protein của thân lá cỏ Stylo khô là 16,3%. Cỏ Stylo có sản lượng thấp hơn một số giống hòa thảo nhưng có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ protein thô đạt 16,68%, tỷ lệ sử dụng cỏ Stylo cũng tương đối cao (87,6 %) (Lê Hòa và Bùi Quang Tuấn, 2009) [8].
Theo Lê Đức Ngoan và cs (2006) [18], thì hàm lượng đạm thô trong cỏ Stylo là 17 - 18%. Cỏ Stylo đã được trồng rộng rãi ở Thái Lan và Lào trong những năm gần đây. Tại Lào, Phengsanvanh (2003b) [71] nghiên cứu và cho biết: cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày có 20,2% CK, protein thô tính theo CK là 19%. Còn theo Chanphone và cs (2003) [39] Stylo CIAT 184 có 22,3% CK, protein thô 19,3%.
Hàm lượng CK đạt từ 20 - 28%, protein thô 13,3% tính theo CK (Toum, 2004) [77]. Tại Thái Lan, cỏ Stylo CIAT 184 có chứa protein thô 17,1% (Kiyothong và cs, 2004a) [54]. Theo Satjipanon và cs (1995) [74] thì thành phần hóa học của cỏ Stylo CIAT 184 ở 4 lứa cắt tính theo chất khô dao động từ 16,7 - 18,1% protein thô. Cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại Nigeria có chất khô 19,75%; protein thô 19,91% (Omole và cs, 2007) [66].
Nếu cỏ đã khô 6 tuần sau thu hoạch thì có 92,1% chất khô; tính theo chất khô có 10,6% protein thô (Bamikole và Ezenwa, 1999) [35]. Theo Mupenzi và cs (2008) [62], cỏ Stylosanthes scabra trồng tại Rwanda có hàm lượng của protein thô là 21%. Theo Ecoport (2001) [84], cỏ Stylosanthes được trồng tại Zaire có thành phần dinh dưỡng biến động từ 15 - 17% protein thô. Theo Bai Changjun và cs (2004) [34], hỗn hợp bột cỏ Stylosanthes bao gồm 45% S.
scabra có chứa 13% protein thô. n 8 * Chất xơ Theo Kiyothong và cs (2004b) [55], cỏ Stylo CIAT 184 tính theo chất khô ở 4 lứa cắt có thành phần xơ trung tính dao động từ 49,1 - 61,5%; xơ axit từ 33,41 - 47,3%. Còn theo nghiên cứu của Phengsanvanh (2003b) [71], tại Lào cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày tuổi có 20,2% CK; tỷ lệ chất xơ trung tính tính theo CK là 64,2 %. Theo Chanphone và cs (2003) [39], Stylo CIAT 184 có hàm lượng xơ thô chiếm 30% VCK.
Hàm lượng CK đạt từ 20 - 28%; protein thô 13,3%; xơ trung tính 16,9% tính theo CK (Toum, 2004) [77]. Theo Kiyothong và cs (2004a) [54], tỷ lệ xơ trung bình của cỏ Stylo CIAT 184 trồng tại Thái Lan là 39,1% và xơ axit là 56,8 %. Tại Nigeria, cỏ Stylosanthes guianensis có 13,28% xơ thô (Omole và cs, 2007) [66], nếu cỏ đã khô sau 6 tuần thu hoạch thì có 32,8% xơ thô (Bamikole và Ezenwa, 1999) [35]. Cỏ Stylosanthes trồng tại Zaire, có 33 - 40% xơ thô (Ecoport, 2001) [84].
Theo Bai Changjun và cs (2004) [34], hỗn hợp bột cỏ Stylosanthes bao gồm 45% S. scabra có 32% chất xơ thô. Ở nước ta, tỷ lệ chất xơ trong cỏ Stylo cũng được các nhà khoa học công bố. Theo Lê Đức Ngoan và cs (2006) [18], thì hàm lượng xơ thô 28 - 31%.
Khi tháng tuổi tăng lên tỷ lệ xơ cũng có xu hướng tăng dần, tỷ lệ xơ trung bình là 7,32% ở cỏ Stylo CIAT 184 tươi, 32,58% trong VCK của bột cỏ. Bột cỏ Stylo CIAT 184 cắt ở 60 ngày và 105 ngày có tỷ lệ xơ thô lần lượt là 27,41% và 37,53% VCK của bột cỏ (Hồ Thị Bích Ngọc, 2012) [20]. * Lipit Theo nghiên cứu của Lê Đức Ngoan và cs (2006) [18] trên cỏ Stylosanthes guianensis cho kết quả tỷ lệ lipit là 1,55%. Cũng trên cỏ n 9 Stylosanthes guianensis nhưng được trồng tại Nigeria, Omole và cs (2007) [66] lại cho biết tỷ lệ lipit thô là 1,34%.
Tỷ lệ lipit trong cỏ Stylosanthes guianensis khác nhau, dao động từ 1,34% - 2,7% VCK khi được trồng ở các nước, các vùng sinh thái khác nhau, có thời gian thu mẫu và phương pháp phân tích khác nhau. Tỷ lệ lipit trong cỏ Stylo cắt sớm là 2,2% và cắt muộn là 1,7% (Kopinski và cs, 2011) [53]. Tỷ lệ lipit trung bình là 0,42% ở cỏ Stylo CIAT 184 tươi và 1,7% ở bột cỏ, bột cỏ Stylo CIAT 184 cắt ở 60 ngày và 105 ngày có tỷ lệ lipit là 1,87% và 1,52% (Hồ Thị Bích Ngọc, 2012) [20]. Còn theo kết quả phân tích mẫu ở Viện chăn nuôi (2001) [32], hàm lượng lipit của bột cỏ Stylo CIAT 184 là 1,90%.
* Các chất khoáng Cùng nghiên cứu trên đối tượng là cỏ Stylo CIAT 184, Chanphone và cs (2003) [39] cho biết: tỷ lệ chất khoáng của cỏ là 5,1%, trong đó khoáng Ca chiếm 0,2% và P chiếm 0,4%; còn theo kết quả nghiên cứu của Kiyothong và cs (2004b) [55], thành phần chất khoáng của cỏ ở 4 lứa cắt tính theo chất khô dao động từ 6,3 - 8,7%.