Đặt vấn đề Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm hiện nay thức ăn chiếm trên 70% giá thành sản phẩm, do vậy nghiên cứu về dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi luôn được các nhà khoa học quan tâm, việc sử dụng các chất có nguồn gốc thực vật làm nguyên liệu bổ sung vào thức ăn chăn nuôi là một hướng đi đúng và cấp thiết. Việc thay thế chất béo động vật bằng nguồn chất béo thực vật không sinh cholesterone như dầu hoa hướng dương, dầu đậu nành, dầu hạt lanh. kết quả làm giảm lượng mỡ bụng tích lũy ở gà thịt (Newman và cs, 2002 [30]; Wongsuthavas và cs, 2008 [38]). Để tăng năng suất chăn nuôi, nhiều người đã sử dụng kháng sinh hoặc hocmon như một chất kích thích sinh trưởng, gây tồn dư ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Một thực tế cho thấy, ngày nay khi điều kiện kinh tế được cải thiện, người tiêu dùng đã chú ý nhiều hơn đến chất lượng hơn là số lượng của sản phẩm như trước đây. Những sản phẩm có tác dụng ngoài việc tăng sức khỏe lại có thêm tác dụng làm đẹp đang được sự quan tâm đặc biệt của người tiêu dùng. Một trong những chất đó là omega-3, omega-6 và omega-9. Các nghiên cứu gần đây cho thấy thành phần omega-3 có thể giúp bảo vệ hệ tim mạch, làm tăng cholesterol có lợi trong máu, hạ huyết áp, làm đẹp da và bảo vệ mắt… Trong thành phần của omega-3 có 3 loại axid béo: ALA (axit α- linolenic), EPA và DHA.
Các chuyên gia y tế đã xác nhận rằng ALA là cơ sở vật chất omega-3, omega-6 và omega-9 là những loại chất béo thiết yếu đối với cơ thể con người. Tuy nhiên, đây là chất mà cơ thể không tự tổng hợp được mà phải bổ sung từ thực phẩm bên ngoài vào như từ trứng, từ dầu thực vật, dầu cá, rong tảo biển…omega-3 là chất quan trọng trong việc duy trì sự phát triển não bộ của con người và là thành phần quan trọng của các tế bào não. Nó là tiền chất thiết yếu của các axit béo không no để cấu tạo nên các eicosanoids có chức năng hỗ trợ hệ miễn dịch, giúp cơ thể trẻ, khỏe mạnh hơn. Axit axit α-linolenic là một loại axit béo được tìm thấy ở thực vật.
Nó tương tự như các axit béo omega-3 e 2 trong dầu cá, được gọi là axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DHA). Axit này rất hiếm trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật ngoại trừ đậu nành. Mặc dù có đôi chút khác biệt nhưng cơ thể chúng ta có thể biến đổi chúng thành axit béo omega-3 tương tự như loại có trong dầu cá. Thậm chí các nhà khoa học cho rằng axit béo omega-3 trong đậu nành còn tốt hơn trong dầu cá vì axit béo omega-3 trong dầu cá có phản ứng phụ, làm cho các phân tử tế bào trở nên không ổn định, dễ sản sinh các gốc oxy tự do gây ung thư và làm xáo trộn insulin gây ra bệnh tiểu đường.
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về các ảnh hưởng của dầu đậu nành, dầu hạt cải đến năng suất, chất lượng sản phẩm của vật nuôi tại Việt Nam, đặc biệt là tỷ lệ omega-3, omega-6 và omega-9. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của dầu đậu nành, dầu hạt cải đến năng suất và chất lượng trứng gà Lương Phượng”. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của các tỷ lệ bổ sung dầu đậu nành, dầu hạt cải khác nhau đến năng suất và chất lượng trứng gà, từ đó khuyến cáo tỷ lệ thích hợp. - Nâng cao giá trị dinh dưỡng, đặc biệt là tăng hàm lượng omega-3 trong trứng để cung cấp cho con người.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho ngành khoa học thức ăn và dinh dưỡng gia cầm những thông tin cơ bản về việc sử dụng dầu đậu nành, dầu hạt cải trong thức ăn hỗn hợp để chăn nuôi gà sinh sản. Ý nghĩa thực tiễn Cân đối khẩu phần dầu đậu nành, dầu hạt cải vào công thức thức ăn hỗn hợp của gà đẻ sẽ nâng cao năng suất và chất lượng trứng gà, đặc biệt cung cấp khẩu phần thích hợp cho gà đẻ trứng nhằm tạo dòng sản phẩm có giá trị dinh e 3 dưỡng đặc biệt giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng và làm giàu cho các hộ, doanh nghiệp chăn nuôi. e 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm Cấu tạo cơ quan sinh dục gia cầm - Cơ quan sinh dục cái của gia cầm Gồm một buồng trứng và một ống dần trứng. Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, còn ống dẫn trứng có chức năng tạo ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao quanh ngoài vỏ trứng. Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 - 24 giờ.
+ Buồng trứng: Buồng trứng nằm phía trái xoang bụng, thấp hơn thận trái, kích thước và hình dạng buồng trứng khác nhau tùy theo tuổi gia cầm. Gà con 10 ngày tuổi buồng trứng có hình phiến mỏng, kích thước từ 1 - 2 mm, khối lượng 0,03g, đến 4 tháng tuổi buồng trứng có dạng hình thoi, khối lượng 2,66g, đến thời kỳ đẻ trứng buồng trứng giống như chùm nho có khối lượng 55g, ở thời kỳ gà nghỉ đẻ thay lông thì khối lượng buồng trứng giảm xuống 5g. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [4] xác định ở giai đoạn phôi thai, hai phía trái và phải của gà mái đều có buồng trứng phát triển nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải tiêu biến chỉ còn lại buồng trứng bên trái. Sự phát triển của mỗi tế bào trứng gồm 3 giai đoạn: Thời kỳ tăng sinh của các tế bào trứng bắt đầu xảy ra ngay trong thời kỳ phát triển phôi thai và kết thúc ở giai đoạn gà con nở ra.
Thời kỳ sinh trưởng gồm có: Thời kỳ sinh trưởng nhỏ: Từ khi gia cầm nở ra đến khi thành thục về sinh dục. Thời kỳ sinh trưởng lớn: Chỉ từ 4 đến 13 ngày, đây là thời kỳ tích lũy lớn nhất 90 - 95% khối lượng trứng được tích lũy trong giai đoạn này. Vào thời kỳ đẻ đường kính của tế bào trứng là 35 - 45mm. e 5 Số lượng tế bào trứng của gà mái có thể đến hàng triệu.
Số lượng trứng lúc gà bắt đầu đẻ từ 900 - 3600 nhưng chỉ có một số lượng hạn chế trứng chín và rụng. Trong thời gian phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào không có liên kết với biểu bì phát sinh, tầng tế bào này phát triển trở thành nhiều tầng và sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là follicun. Bên trong follicun có một khoảng trống chứa đầy dịch, bên ngoài follicun giống như một cái túi. Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều follicun chín dần làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như chùm nho.
Sau thời kỳ đẻ trứng, buồng trứng trở về hình dạng ban đầu, các follicun trứng vỡ ra, quả trứng chín chuyển ra ngoài cùng với dịch của follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng. Sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục, đó là quá trình đi ra của tế bào trứng chín. Từ buồng trứng, sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày, có những trường hợp đặc biệt có thể hai hoặc ba tế bào cùng rụng một lúc, trường hợp quả trứng của ngày hôm trước đẻ sau 4 giờ chiều thì phải sang ngày hôm sau mới xảy ra quá trình rụng trứng. Tính chu kỳ của sự rụng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, lứa tuổi, trạng thái sinh lý của gia cầm.
Song điều kiện chung nhất là sự rụng trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của thần kinh và thể dịch (Nguyễn Duy Hoan và cs 1998 [4]). + Ống dẫn trứng là một ống dài có nhiều khúc cuộn, tại đây xảy ra quá trình thụ tinh và hình thành trứng của gia cầm. Tùy thuộc vào hình dạng và chức năng của ống dẫn trứng mà người ta chia thành các loại khác nhau. Kích thước và hình dạng ống dẫn trứng thay đổi theo lứa tuổi và các hoạt động của cơ quan sinh dục.
Trước khi đẻ quả trứng đầu tiên ống dẫn trứng dài ra, khối lượng tăng lên rất nhiều và nó chia thành từng phần khác nhau: Ở gà không đẻ trứng (trưởng thành) chiều dài ống dẫn trứng: 1 - 18cm. Ở gà đẻ trứng (lúc trưởng thành) chiều dài ống dẫn trứng: 55 - 68cm. Ở thời kỳ thay lông chiều dài ống dẫn trứng chỉ còn khoảng 7cm. e 6 Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lý ống dẫn trứng chia thành 5 phần: loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo.
- Loa kèn: Bề mặt niêm mạc của loa kèn thì không có ống tuyến chỉ phần cổ phễu có ống tuyến tiết ra một phần lòng trắng đặc hình thành dây chằng lòng đỏ. Tại đây trứng được thụ tinh nếu gặp tinh trùng, trứng chỉ dừng ở đây từ 15 đến 20 phút. - Phần tiết lòng trắng: Là bộ phận dài nhất của ống dẫn trứng. Ở thời kỳ gia cầm đẻ với tỷ lệ cao, chúng có thể dài từ 20 - 30 cm, niêm mạc phần này có nhiều tuyến hình ống giống như cổ phễu để tiết ra lòng trắng đặc hình thành dây chằng lòng đỏ và tiết ra lòng trắng loãng, trứng dừng ở đây khoảng 3 giờ.
- Phần eo: Là phần hẹp hơn của ống dẫn trứng, dài khoảng 8cm, các tuyến ở đây tiết ra một phần lòng trắng và tiết ra một chất hạt hình thành nên tấm màng dưới vỏ gồm 2 lớp, 2 lớp này tách nhau tại đầu lớn của vỏ trứng hình thành nên buồng khí. Các dung dịch muối và nước có thể thấm qua màng này đi vào lòng trắng. Trứng dừng ở đây khoảng 60 - 70 phút. - Tử cung: Là phần tiếp theo của quá trình tạo vỏ là phần mở to ra tạo thành tử cung dài từ 8 - 12cm, tuyến vách tử cung tạo thành một lớp dịch lỏng, chất dịch thẩm thấu qua màng vỏ đi vào lòng trắng làm cho tăng khối lượng lòng trắng, mặt khác một số tuyến ở tử cung tiết ra một chất dịch hình thành nên vỏ cứng, quá trình hình thành của vỏ diễn ra chậm chạp.
Trứng dừng lại ở đây khá lâu từ 18 - 20 giờ. - Âm đạo: Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng ra ngoài cơ thể.