Chương 1 TONG QUAN 1. Tinh hình chăn nuôi gia cầm 1. Trong nước Ngành chăn nuôi gia cầm của Việt Nam đến cuối năm 2022 đạt gần 552 triệu con (đứng thứ 30 trên thế giới), với sản lượng thịt hơi đạt khoảng hơn 2 triệu tấn. Dự báo trong 10 năm tới, với tốc độ tăng 5%/năm, số lượng đàn sẽ đạt gần 800 triệu con, sản lượng khoảng 3,3 triệu tan.
Theo các chuyên gia phân tích, tiêu thụ thịt gia cam bình quân đầu người của Việt Nam năm 2015 là 9,9 kg/nguoi/nam; 19,5 kg/ngườinăm vào năm 2021 và lên mức 20,3 kg/người/năm đến năm 2029. Như vậy nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm trong nước có tăng nhưng chỉ ở mức hon 1,2 - 1,4%/nam. Điều này đồng nghĩa với việc năm 2030, Việt Nam vẫn thừa khoảng trên 1 triệu tấn thịt gia cầm. Chính vì vay, con đường duy nhất để giải quyết bài toán dư thừa đó là xuất khâu.
Bình quân sản phẩm thịt, trứng, sữa/người/năm Sản pham DVT Nam 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 pe ke 52,1 544 556 561 65,8 66,8 67,7 Trong đó: a kg 379 395 39,9 39,9 423 41,3 42,3 Thịt gia cầm kg 99 104 110 11,5 174 193 195 Thịt trâu bò k 42 43 A44 45 57 58 5,9 Trứnggiacẩm quả 96/2 1014 1132 1214 1604 1703 178,5 Sữa tươi kg 78 86 94 98 102 108 10,9 Nguồn, Tông cục thong kê, 2022 Những năm gần đây, đặc biệt là sau dịch bệnh tả châu phi trên đàn lợn và dịch Covid 19, nhu cầu về thịt gia cầm và trứng tăng mạnh, chính vì vậy việc phát triển chăn nuôi gia cầm như là một xu thế tất yếu, bù đắp lại lương thực thiếu hụt do đàn lợn cả nước bị dịch bệnh. Trên thế giới Theo dự báo của FAO đưa ra năm 2022 cho biết, thịt gia cầm sẽ tiếp tục là ngành công nghiệp chính thúc đây sự tăng trưởng sản xuất thịt toàn cầu khoảng 16% vào năm 2031. Với giá thịt, nguồn thức ăn thuận lợi hơn cùng chu kỳ sản xuất ngắn so với các loài động vật nhai lại khác, người chăn nuôi gia cầm có thé thay đổi và đáp ứng nhanh chóng với các tín hiệu thay đổi của thị trường, đồng thời thực hiện những cải tiến trong di truyền, sức khỏe động vật và thực hành nuôi dưỡng. Sản xuất thịt gia cầm sẽ mở rộng nhờ tăng năng suất bền vững ở các nước Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Hoa Kỳ, trong đó thịt gia cam ở An Độ được dự báo tăng trưởng 1,9%/nam, ở Úc là 1,4%/nam trong giai đoạn 2020 - 2031.
Sự mở rộng cũng được dự đoán trước ở các nước châu Á khi sự dịch chuyển tiêu thụ từ thịt lợn sang thịt gia cầm do bùng phát dịch tả Châu phi sẽ mang lại lợi ích cho ngành gia cầm trong trung hạn (Nguồn: OECD-FAO Agricultural Outlook 2022-2031 ) Một dự báo khác FAO 2021-2030, mức tiêu thụ trứng toàn cầu sẽ tăng từ 6,5 kg/nguoi/nam trong năm 2000 lên 8,9 kg (khoảng 148 quả) /nguoi/nam vào năm 2030 tại các nước đang phát triển. Ở các nước công nghiệp, tiêu thụ trứng được dự báo sẽ tăng từ 13,5 kg (khoảng 225 quả)/người/năm vào năm 2020 lên 14,8 kg (khoảng 247 quả)/người/năm vào năm 2030. Hơn 67% mức tiêu thụ trứng toàn cầu thuộc về các nước châu Á. Ở Trung Quốc, nơi tiêu thụ trứng cao hơn gấp đôi mức trung bình của các nước đang phát triển, mức tăng tiêu thụ từ 15 kg/người/năm (250 quả) trong năm 2000 lên 20 kg (333 quả)/ngườinăm vào năm 2030.
Giới thiệu về giống gà Isa Brown va Cobb 500 1. Gà Isa Brown Gà Isa Brown là giống gà lai tạo từ các giống gà chuyên trứng có nguồn gốc từ Viện Chọn lọc Giống động vat (Institut de Selection Animal) viết tắt là I. Giống gà lai này được hình thành do việc lai tạo giữa giống gà Rohde đỏ với gà Rohde trắng. Đây là giống gà hướng trứng được nuôi phổ biến trên thế giới, có khả năng thích nghỉ tốt với các vùng khí hậu, cách quản lý và hệ thống chuồng trại khác nhau.
Ở Việt Nam, gà Isa Brown được nhập về từ Pháp. Gà có tỷ lệ nuôi sống cao (lên đến 93%) và hệ số chuyên hóa thức ăn thấp (trung bình khoảng 2,15 kg thức ăn/kg tăng khối lượng); khối lượng con mái có thể đạt xấp xỉ 2,0 kg. Chúng được xếp vào nhóm gà siêu trứng, trứng có màu nâu, năng suất trứng cao với thời gian đẻ kéo dai từ 18 - 100 tuần, đỉnh sản lượng có thể đạt tỷ lệ đẻ 96,5%; khối lượng trứng lớn (bình quân đạt 63 gram) (Nguồn: https://www. com/ en/product/ isa-brown/) Hinh 1.
Ga Isa Brown (Nguồn:https://www. com/en/product/ isa -brown/) 1. Ga Cobb 500 Cobb 500 là giống ga thịt cao sản, có nguồn gốc từ Cobb - Vantress. Đây là một trong những công ty chăn nuôi gà thịt lâu đời nhất thế giới, được thành lập vào năm 1916 (Nguồn: hfips:/www.com/en_UŠ/who-we-ar/).
Cobb 500 có bộ lông màu trắng, dày và rậm, cánh nhỏ, thân hình bầu, đẹp, chân cao khỏe, phần ngực chiếm phần lớn cơ thể. Tăng khối lượng nhanh, hệ số chuyền hóa thức ăn thấp. Tại thời điểm 42 ngày tuổi, con trống nặng 2,8 - 2,9 kg/con, gà mái nặng 2,4 - 2,5 kg/con. Giống Cobb 500 được xếp vào nhóm sản xuất gà thương thâm nuôi thịt.
Ở top 25% đàn tốt nhất, con mái có thé đẻ 160,3 - 181,3 quả/mái và số gà con sản xuất ra trung bình 138,2 - 149,6 con/mái (Nguồn: hfips:/wwww.com /en_US/products/cobb500/ /) Hinh 1. Ga Cobb 500 (Nguôn:htips:/www.com/en_US/products/cobb500/) 1. Cơ sở khoa hoc 1. Vai trò của chất khoáng trong chăn nuôi gà đẻ Chất khoáng rất cần thiết cho thể chất và tinh thần của cơ thể sống và gà đẻ cũng không phải là ngoại lệ.
Chúng là thành phần của tất cả các tế bào, bao gồm tế bào máu, thần kinh, cơ, xương, răng, hormone và mô mềm. Nhiều khoáng chất khác là một phần không thê thiếu của các enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa như sản xuất năng lượng, trao đổi chất, dẫn truyền thần kinh, co cơ va tính thẩm thấu của tế bào (Lukié và cs, 2009) Trong dinh dưỡng gia cầm, tùy thuộc vào mức độ cần thiết trong khâu phần, khoáng thường được phân thành hai loại là khoáng đa lượng và vi lượng. Các khoáng đa lượng bao gồm: Canxi, Phốt pho, Clo, Magié, Kali, Natri. Các khoáng vi lượng như: Đồng, Iod, Sắt, Mangan, Selen và kẽm.
Yêu cầu đối với khoáng đa lượng thường được biéu thị bằng tỷ lệ phan trăm của khẩu phan ăn, trong khi yêu cầu đối với vi khoáng biểu thị dưới dang phần triệu (Bảng 1. Nhu cầu khoáng của gà đẻ trứng Loại khoáng Mật độ trong thức Nhu cầu hàng ngày cho một gà mái ăn cho gà đẻ trứng (mg hoặc Ul) màu trắng : Gà bô Gà thương Ga thương mẹlông phâmlông phẩm lông trăng đẻ trăng đẻ màu đẻ trứng trứng trứng Mức ăn hàng ngày (g) 80 100 120 100 100 100 Khoáng đa lượng Canxi (%) 406 3,225 2,71 3.600 Clo (%) 0,16 0/13 0/11 130 130 145 Magié (mg) 625 500 420 50 50 53 Phốt pho không phytate (%) 0,31 0,25 0,21 250 250 275 Kali (%) 0,19 015 0,13 150 150 165 Natri (%) 0,19 O15 0,13 150 150 165 Khoáng vi lượng lod (mg) 0,044 0,035 0,029 0,01 0,004 0,004 Sat (mg) 5% 45 38 6 4,5 5 Magié (mg) 25 20 17 2 2 2,2 Selen(mg) 0,08 0,06 0,05 0,006 0,006 0,006 Kém (mg) 44 35 29 4,5 3,5 3,9 (Nguon: NRC, 1994) Mặc dù khoáng chi chiếm một lượng nhỏ trong tổng nhu cầu đưỡng chat nhưng nó là đặc biệt cần thiết cho mọi cơ thé sống. Chúng cũng đóng một vai trò thiết yêu trong quá trình trao đối chất trong cơ thể. Các chất khoáng quan trọng với gà đẻ theo nhiêu cách khác nhau, cụ thê: Hình thành bộ xương va vo trứng Calcium, phosphorus cần thiết cho sự hình thành và duy trì khung xương.
Calcium rất quan trọng trong việc hình thành vỏ trứng. (Belkameh và cs, 2021) Các thành phần của các hợp chất khác nhau có chức năng cụ thể trong cơ Calcium cần thiết cho quá trình đông máu, truyền thông tin từ tế bao nay sang tế bao khác. Cobalt là một phan của vitamin B12. Iron là một phần của hemoglobin.
Tod là một phần của thyroxine (Robert Russell va cs, 2001) La đồng yếu tố trong các enzyme khác nhau Phosphorus cần thiết cho quá trình chuyền hóa năng lượng. Copper, manganese, selenium và zinc có chức năng là các yếu tố phụ trợ, thiết yêu cho các enzyme (Arif và cs, 2022) Duy trì sự cân bằng thẩm thấu trong cơ thé Sodium, potassium magnesium va chlorine có chức năng với phosphate và bicarbonate dé duy tri su cân bằng thâm thấu va độ pH khắp cơ thé (Arif va cs, 2022) 1. lod va vai trò của Lod 1. Sơ lược về Iod lod được phát hiện bởi nhà hóa học người Pháp Barnard Courtois vào năm 1811.
Tên của nó có nguồn gốc từ từ “iœõnc” trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “cd màu tim”. lod ton tại ở dạng rắn (I2) hoặc ở dạng muối (ví dụ, KI và Nal), và có nhiều trạng thái oxy hóa, bao gồm iodide (I), iodate (IO3') và các chu kỳ khác nhau anion (vi dụ: metaperiodate [IO+] và orthoperiodate [IOs*]). Ở động vật, khoảng 70 - 80 % Iod có trong tuyến giáp, phần còn lại chủ yếu nằm trong cơ xương (Wu, 2017) Hình 1. Mô hình mạng tinh thé phân tử Iod (Nguon: https://chemistryclinic.uk/structure-of-substances/) 1.
Vai trò của lod đối với động vật Ngay từ năm 1850, Jean Boussingault đã phát hiện ra rang, lod dap ứng đủ trong chế độ ăn uống có hiệu quả trong việc ngăn ngừa va điều trị bệnh bướu cổ. lod đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp hormone tuyến giáp là triiodothyronine (T3) và thyroxine (T4), nó chiếm 65% trọng lượng của T4 và 58% trọng lượng của T3 (Bernard và cs, 2015). Chức năng của hai hormone này giống nhau là làm tăng chuyên hóa dưỡng chat trong cơ thé, chỉ khác nhau là T3 hoạt động mạnh gấp khoảng 4 lần so với T4 nhưng tồn tại trong máu với lượng nhỏ và thời gian ngắn hơn nhiều so với T4. Trong tuyến giáp và ở mức độ tối thiểu trong buồng trứng, Iod bị oxy hóa nhanh chóng và kết hợp với tyrosine dé tạo ra Iod hữu cơ.
Quá trình oxy hóa càng cao càng cho phép Iod tạo thành phức hợp Iod hữu cơ thiết yếu hiện diện trong tat cả các mô (Yen va Chin, 1994). Ở tat cả các vị trí khác, nó vẫn ở dang Iodide (Lewis, 2004). Con đường trao đổi chất này bắt đầu với một loại protein được gọi là thyroglobulin, có chứa các hormone tuyến giáp, được lưu trữ trong lòng nang giáp cho đến khi cần thiết. Sau đó, enzyme protease sẽ phân giải thyroglobulin giải phóng các hormone vào tuần hoàn.
Khoảng 2/3 lượng Iod của thyroglobulin ở dạng tiền chat không hoạt động, monoiodotyrosine và diiodotyrosine.