chương 1, tác giả tập trung luận giải về Nho giáo với tính cách là một học thuyết chính trị - xã hội ở Trung Quốc cổ đại. Đề cập đến một số tư tưởng cơ bản của Nho giáo về chính trị - xã hội, tác giả phân tích 3 nội dung: quan điểm về con người, về xã hội lý tưởng và về đường lối trị nước. Đây là một cách tiếp cận mà tác giả luận án có thể tham khảo, lựa chọn những yếu tố hợp lý của nó để từ đó tìm cách tiếp cận riêng của mình. Trong bài “Tư tưởng Nho giáo về cơ sở của sự ổn định xã hội” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc của Nguyễn Minh Hoàn, tác giả có đề cập một số vấn đề thuộc nội dung tư tưởng trị quốc của Nho giáo.
Theo tác giả, mục tiêu trị quốc của Nho giáo là “một xã hội thực sự tốt đẹp - thái bình thịnh trị chỉ có thể là quay về thời kỳ Nghiêu - Thuấn trước kia” [34, tr. Về đường lối trị quốc, quản lý, lãnh đạo quốc gia, đưa đất nước từ “loạn” trở lại “trị”: 1) Phải chính danh, 2) Khổng Tử đòi hỏi người cầm quyền phải luôn chú ý đến việc thực hiện lẽ công bằng và sự yên ổn cho dân, 3) Phải giúp dân “có đủ ăn, đủ mặc và làm giàu”, phải giáo dân “không phân biệt trên dưới, thân sơ, quý tiện, sang hèn” như chủ trương của Khổng Tử”, 4) Để tránh chiến tranh liên miên, Mạnh Tử khuyên vua “hà tất phải nói đến lợi, chỉ cần 13 nói tới nhân nghĩa mà thôi” [34, tr. 5) Quan hệ giữa vua và bề tôi, theo Khổng Tử, “vua dùng lễ sai khiến bề tôi, bề tôi lấy hết lòng trung thờ vua”, và theo Mạnh Tử chỉ giáo thêm, “mặc dù người cai trị có được người dưới cung phụng, nhưng ngược lại, người cai trị cũng phải thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ với những người mà mình cai trị” [34, tr. Đây là một số, chứ không phải tất cả, nội dung của tư tưởng trị quốc trong Nho giáo, được tác giả bài viết tiếp cận để làm sáng rõ cơ sở của sự ổn định xã hội theo quan niệm, chủ trương của Nho giáo Khổng Mạnh.
Trên đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, trong đó có sự tìm hiểu nhiều, ít khác nhau về tư tưởng trị quốc của Nho giáo. Chúng tôi coi đây là những tài liệu quý, có giá trị khoa học cần được tham khảo và kế thừa có chọn lọc để giải quyết những nhiệm vụ luận án đặt ra. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRỊ QUỐC NHO GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM Nghiên cứu về ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử cũng như trong giai đoạn hiện nay đã có không ít công trình tiêu biểu, có giá trị. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề ảnh hưởng của tư tưởng trị quốc Nho giáo đến quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì không nhiều.
Trong cuốn Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám của Trần Văn Giàu, ở chương ba, tác giả đề cập đến vấn đề “Tư tưởng Nho giáo Việt Nam thế kỷ XIX”. Theo tác giả, tư tưởng Nho giáo thế kỷ XIX ở Việt Nam bao gồm bốn vấn đề cơ bản là thiên đạo quan, lịch sử quan, đạo đức và trị đạo. Về nội dung cơ bản của học thuyết chính trị Nho giáo, tác giả nhận định: “Cái chính yếu nhất của Nho giáo là đạo đức. Đạo đức Nho giáo cuối cùng là nhằm phục vụ sự trị nước: trị quốc, bình thiên hạ là cái đích cao của sự thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia” [24, 14 tr.
Theo ông, vấn đề tư tưởng về đạo đức, một nội dung quan trọng trong Nho giáo “là phương châm, phương hướng lớn của việc trị nước” [24, tr. Nho giáo Trung Quốc nói chung, Nho giáo Khổng Mạnh nói riêng đã xâm nhập Việt Nam. Nó được người Việt Nam tiếp thu và cải biến đi ít nhiều. Ở nước ta, vì thế, đã hình thành Nho giáo Việt Nam.
Tư tưởng đạo đức trong Nho giáo đóng vai trò trị quốc, cũng như toàn bộ nội dung của Nho giáo Việt Nam, theo tác giả còn có những ảnh hưởng tiêu cực: “Nho giáo Việt Nam rõ ràng là lạc hậu, phức tạp, rối mù, xa lạ với khoa học, bên lề của lý trí lôgíc” [24, tr. Và tác giả cho rằng: Nho giáo tuy không hẳn là một tôn giáo., nhưng kỳ thực nó vẫn phụ thuộc vào trời, vào thần, trói cột lý trí vào số, vào mệnh trời, lúc nào cũng chực quay về xưa, càng xưa càng tốt đẹp. Một thiên đạo quan như thế làm sao có thể giúp cho các chính khách, các nhà đương cuộc, các bậc chí sĩ nhận định đúng thời thế, về sức địch, sức ta và những nhiệm vụ quốc tế cần kíp? [24, tr. Trong cuốn Nho giáo tại Việt Nam do Lê Sĩ Thắng chủ biên, tập hợp gần 30 bài viết của các nhà nghiên cứu qua 2 cuộc hội thảo vào các năm 1973 và 1978 về đề tài “Nho giáo trong lịch sử và tàn dư của nó trong xã hội Việt Nam”, có một số bài liên quan đến chủ đề luận án.
Tiêu biểu như: - Bài “Nhân dân Việt Nam dưới tác động của Khổng giáo” của Vũ Khiêu. Trong công trình nghiên cứu đó, tác giả đề cập một số nội dung chính: 1) Khẳng định, ghi nhận giá trị, ảnh hưởng tích cực của Nho giáo Khổng Mạnh; 2) Phê phán những tác động tiêu cực của Nho giáo bao hàm tư tưởng trị quốc trong đó. Về giá trị, ảnh hưởng tích cực của Nho giáo Khổng Mạnh, tác giả nhận xét: “Khổng giáo được du nhập vào Việt Nam và suốt hai nghìn năm giữ địa vị của hệ tư tưởng thống trị trong thượng tầng kiến trúc phong kiến. Khổng giáo thực tế đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam” [120, tr.
Ông cũng khẳng định thêm về ảnh hưởng của nó trong lịch sử nước ta: 15 Từ đầu thế kỷ XV, nhất là khi Nhà nước phong kiến của Lê Lợi thiết lập thì chế độ phong kiến Việt Nam đã đi vào giai đoạn phát triển cao nhất. Khổng giáo đã bắt đầu chiếm địa vị độc tôn trong thượng tầng kiến trúc phong kiến… Hệ tư tưởng Khổng giáo được quán triệt vào nhiều chủ trương chính sách của nhà nước phong kiến và có ảnh hưởng sâu sắc trong mọi lĩnh vực văn hóa đương thời [120, tr. Bên cạnh sự ghi nhận, đánh giá về ý nghĩa, vai trò, ảnh hưởng tích cực của Khổng giáo ở một giai đoạn lịch sử nhất định, tác giả còn chỉ ra không ít ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng trị quốc Nho giáo. Cụ thể là: 1) “Học thuyết của Khổng Tử là một học thuyết bảo thủ” [120, tr.251]; 2) “Học thuyết của Khổng Tử tập trung vào tinh thần trung quân.
Thờ vua là điểm cao nhất của đạo làm người, là yêu cầu đạo đức đầu tiên của những đại trượng phu, của bậc đại dũng, của anh hùng” [120, tr.253]; 3) Tư tưởng Khổng giáo là hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến phương Đông. Đó là phương tiện tinh thần rất độc hại để nô dịch quần chúng… Khổng giáo rõ ràng là đứng hẳn về phía giai cấp phong kiến nước ngoài, bào chữa cho sự xâm lược của chúng, thuyết phục nhân dân ta quy thuận sự thống trị của phương Bắc, thần phục vua chúa nước lớn, coi như vị thiên tử có uy quyền tuyệt đối với cả thế gian này. Bọn thống trị thông qua Khổng giáo để đào tạo những nho sĩ bản xứ, sử dụng họ làm tay sai trong bộ máy quan liêu [120, tr.264,265]; 4) Tư tưởng khinh rẻ phụ nữ là tư tưởng nổi bật trong Khổng giáo… Thật là một điều sỉ nhục đối với phụ nữ, khi ông (Khổng Tử) quy đạo đức của phụ nữ vào bốn điểm Dung, Công, Ngôn, Hạnh. Đó là thứ đạo đức biến người đàn bà thành một công cụ mua vui cho đàn ông [120, tr.269]; 5) “Khổng giáo củng cố ở nhân dân tư tưởng về tính vĩnh cửu của chế độ phong kiến” [120, tr.290]; 6) “Khổng giáo giam con người vào một trật tự phong kiến chặt chẽ từ trên xuống dưới.
Lễ giáo Khổng Tử quy định thứ bậc cho các tầng lớp nhân dân” [120, tr. 16 - Bài “Ảnh hưởng Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam” [120, tr.385-418] của Nguyễn Đức Quỳ. Trong bài viết này, tác giả bàn tương đối nhiều về ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Nho giáo, trong đó có những yếu tố của tư tưởng trị quốc. Về ảnh hưởng tích cực, tác giả cho rằng: “Khi gặp Nho giáo với toàn bộ kiến thức và quan niệm trình bày mạch lạc, có lập luận, có dẫn chứng cụ thể về việc thời xưa được ghi lại bằng chữ, thì những người trí thức bị bắt buộc làm quen với Nho giáo… đã từ chỗ bị ép học, tiến dần đến chỗ tự nguyện học và vận dụng nó vào đời sống, lấy nó làm kim chỉ nam cho suy nghĩ và hành động [120, tr.388], và “tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng sâu, mạnh tới toàn bộ tư tưởng Việt Nam” [120, tr.
Tác giả nhận định: “Về trị nước, Khổng Tử chỉ nói có tám chữ nhưng tổng kết được những yêu cầu cơ bản của một bộ máy cai trị, dù thời xưa hay thời nay: “Túc thực, túc binh, dân tín chi hỹ” [120, tr. Tác giả nhận xét, theo Khổng Tử, trong ba nhân tố là kinh tế dồi dào (“túc thực”), quân đội mạnh mẽ (“túc binh”) và dân tin tưởng nghe theo (“dân tín”) thì nhân tố thứ ba (“dân tín”) là quan trọng nhất. Theo tác giả, trong vấn đề trị nước, Khổng Tử xác định được lực lượng quyết định nhất trong mọi sự nghiệp, thành bại, thịnh suy, hưng vong đều do dân có củng cố không, có tham gia tích cực hay không? Khổng Tử nói khi được hỏi phép trị nước: “Dân là gốc nước, gốc bền thì nước yên”… Khổng Tử đã nói dứt khoát… không có dân thì không làm được gì, có dân ủng hộ mạnh thì sẽ có kinh tế và quân đội. Mọi chuyện đều từ dân mà ra [120, tr.
Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằng, tư tưởng trị quốc của Nho giáo có nhiều ảnh hưởng tiêu cực tại Việt Nam. Đó là tính chất bảo thủ, “tuyệt đối hóa kinh nghiệm của người xưa” [120, tr.395] trong Nho giáo. Đó là việc “Nho giáo thường hay cực đoan hóa những khuôn phép đã định ra” [120, tr.