CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do nghiên cứu Mua hàng hóa từ người quen biết là một hình thức mua sắm không mới lạ tại Việt Nam. Trong đó, các sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng được mua bán khá phổ biến – điển hình là thực phẩm tươi sống. Sự tồn tại lâu đời của các chợ truyền thống; sự hiện diện của các siêu thị như BigC, Coopmart, Vinmart cùng sự mở rộng của các chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch như Sói Biển, Bác Tôm, Cleverfood cũng chưa làm biến mất kiểu mua sắm này. Điều này có thể chứng tỏ việc mua sắm thực phẩm tươi sống từ người quen biết có một sức hấp dẫn khác biệt với người tiêu dùng.
Nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng trên thế giới có rất nhiều lý thuyết, nhìn chung đều thống nhất rằng hành vi người tiêu dùng có chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý như động cơ, nhận thức, học hỏi, niềm tin và thái độ (Kotler & Amstrong, 2012) hay tâm lý xã hội như các mối quan hệ, nhóm tham khảo, người đưa ra ý kiến (Berscheid & cộng sự, 1989; Yoon & Uysal, 2005). Nghiên cứu tâm lý được ví như nhìn vào “chiếc hộp đen” nhằm khám phá những hoạt động trong suy nghĩ của người tiêu dùng, biết được quá trình giải quyết mâu thuẫn mà người tiêu dùng trải qua để đi đến quyết định mua hàng (Schewe & Hiam, 2010). Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố tâm lý và tâm lý hành vi con người diễn ra ở các mối quan hệ trong trường hợp này giúp hiểu về các kích thích nội tại dẫn đến hành vi mua hàng từ người quen biết của người tiêu dùng nói chung và mua thực phẩm tươi sống từ người quen biết nói riêng. Ngay tại Việt Nam, hành vi người tiêu dùng cũng là một chủ đề được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng có đóng góp trong việc giải thích hành vi tiêu dùng của người Việt Nam dưới tác động của nhiều yếu tố trong đó có các mối quan hệ và tâm lý (Nguyễn Phượng Lê & cộng sự, 2012; Lê Thùy Hương, 2015; Nguyễn Vũ Hùng & cộng sự, 2015, 2016). Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng trong lĩnh vực mua thực phẩm thường xoay quanh chủ đề về sự an toàn (Lê Thùy Hương, 2015; Nguyễn Thị Minh Hòa, 2016) hoặc một chủng loại 2 thực phẩm nhất định (Nguyễn Phượng Lê & cộng sự, 2012; Nguyễn Ngọc Quang, 2016). Từ các kết quả nghiên cứu, các tác giả đã đề xuất những đóng góp trong thực tế cho các nhà xây dựng và điều hành chính sách, những người ra quyết định trong doanh nghiệp và cho cả người tiêu dùng. Như vậy xét về mặt tổng quan, các nghiên cứu được thực hiện trước đây đã cho thấy ảnh hưởng của tâm lý đối với hành vi mua; tuy nhiên chưa có một nghiên cứu cụ thể về việc mua hàng hóa từ người quen biết, đặc biệt là mua loại thực phẩm không có đăng kí thương hiệu hoặc chưa qua kiểm định mà chỉ qua lời giới thiệu.
Về mặt thực tế, hành vi mua hàng hóa từ người quen biết, đặc biệt là hàng hóa liên quan trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng, cho phép suy đoán rằng việc bán hàng hóa hiện tại có thể chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, dẫn đến họ quyết định chọn lựa kiểu mua sắm khác. Hiểu được tâm lý người tiêu dùng trong trường hợp này, doanh nghiệp cùng các nhà hoạch định và truyền thông chính sách có thể ứng dụng trong công việc kinh doanh, quản lý hàng hóa nói chung và thực phẩm tươi sống nói riêng nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho tất cả các bên. Xuất phát từ những lý do kể trên, học viên quyết định lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đến hành vi mua hàng hóa từ người quen biết: nghiên cứu trường hợp mua thực phẩm tươi sống tại Hà Nội” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xác định các nhân tố thuộc về yếu tố tâm lý và ảnh hưởng của chúng tới hành vi mua thực phẩm tươi sống của người tiêu dùng. Các mục tiêu cụ thể được xác định như sau: • Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hành vi tiêu dùng của khách hàng cá nhân, các nhân tố thuộc về yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng, các cách thức đo lường một số nhân tố trong đó.
• Đánh giá tầm quan trọng của từng nhân tố thuộc về yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng. • Đánh giá sự ảnh hưởng lẫn nhau (qua mô hình) của các nhân tố thuộc về yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng. 3 • Lý giải các mối quan hệ được đánh giá trong thực tế. • Đánh giá ứng dụng của nghiên cứu trong thực tế cho cộng đồng và nhà quản lý.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tâm lý trong ảnh hưởng đến hành vi mua hàng hóa từ người quen biết.
Khách thể nghiên cứu: Cá nhân đã từng có hành vi mua thực phẩm tươi sống từ người quen biết. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Hà Nội trong thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 4/2017, thời gian khảo sát giai đoạn 1 trong tháng 11/2016 và giai đoạn 2 từ tháng 1 đến tháng 2/2017.4 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để phân tích, nhưng chủ yếu là sử dụng kĩ thuật phân tích định lượng (chi tiết tại chương 3).5 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu về hành vi và tâm lý người tiêu dùng Nghiên cứu về tâm lý người tiêu dùng trên thế giới đã được thực hiện là một phạm trù rộng lớn nhưng quen thuộc, trong đó có nhiều nghiên cứu liên quan đến động cơ, nhận thức và thái độ của người tiêu dùng. Nghiên cứu về động cơ và nhu cầu người tiêu dùng được triển khai với nhiều cách thức trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các tác giả có thể áp dụng lý thuyết nền tảng chung về nhu cầu con người như thuyết Maslow và thay đổi cho phù hợp với nghiên cứu trong lĩnh vực marketing (Seeley, 1992); hoặc so sánh ảnh hưởng giữa động cơ và các yếu tố khác đến tâm lý và hành vi người tiêu dùng (Bigné & cộng sự, 2010).
Nghiên cứu của Krytallis & cộng sự (2008) sử dụng cách tiếp cận MEC (means-end chains) đã tìm ra động cơ mua thực phẩm chức năng của người tiêu dùng tại Hy Lạp chủ yếu xuất phát từ sự quan tâm về sức khỏe như (1) muốn nâng cao sức khỏe hoặc phòng tránh bệnh tật thông qua ăn uống; (2) hứng thú khi ăn và 4 (3) niềm tin của họ vào thực phẩm chức năng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy nhóm người trẻ hơn thường quan tâm đến nguồn gốc của thực phẩm trong khi nhóm già hơn chú ý nhiều đến sự tiện lợi khi mua sắm và giá rẻ. Nghiên cứu của Sautron & cộng sự (2015) trình bày cách thức chi tiết xây dựng một thang đo khám phá nhu cầu mua thực phẩm của khách hàng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia đã đưa ra bảng hỏi sơ bộ gồm 104 câu hỏi.
Giai đoạn 2 các tác giả tiến hành nghiên cứu trên diện rộng và loại trừ dần với mẫu 1000 phần tử. Kết quả nghiên cứu là 21 nhân tố đo lường động cơ liên quan đến đạo đức và môi trường, sản phẩm, giá, sức khỏe cùng nhiều yếu tố khác. Nghiên cứu về nhận thức của khách hàng có thể xem xét đo lường từ nhiều khía cạnh như nhận thức chất lượng sản phẩm, dịch vụ (Troy & Kerry, 2010; Jove & cộng sự, 2004); về quy trình sản xuất và xuất xứ của sản phẩm, dịch vụ (Lee & cộng sự, 2015) hoặc về thương hiệu, nhãn hiệu hoặc công ty (Jin & Suh, 2005). Nghiên cứu của Troy & Kerry (2010) đánh giá nhận thức của người tiêu dùng dưới các góc độ (1) giá trị cảm quan bao gồm màu sắc, bao gói, lượng mỡ nhìn thấy; (2) giá trị kinh nghiệm bao gồm độ mềm và hương vị của thực phẩm.
Ngoài ra, các tác giả đặc biệt chú ý đến bối cảnh của nghiên cứu khi xem xét yêu cầu cao về thẩm mỹ có nâng cao nhận thức cảm quan của khách hàng hay công nghệ hiện đại có làm tăng trải nghiệm về chất lượng cho khách hàng hay không. Các khía cạnh nhận thức khác được đề cập trong nghiên cứu đó là nhận thức về sự an toàn, dinh dưỡng, tình trạng đối xử với vật nuôi và tính bền vững. Nghiên cứu của Lee & cộng sự (2015) thực hiện tại Trung Quốc đánh giá vai trò của thông tin với nhận thức của người tiêu dùng. Ý tưởng của nghiên cứu là so sánh nhận thức và sự sẵn sàng chi trả của khách hàng trước và sau khi được cung cấp thêm thông tin về các quy trình xử lý đồ uống.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi được cung cấp thông tin chi tiết hơn, ý định chấp nhận của người tiêu dùng đã chuyển đổi hoàn toàn, từ quy trình được chấp nhận nhiều nhất thành quy trình được chấp nhận ít nhất và ngược lại. Từ đó, nghiên cứu kết luận rằng thông tin càng chi tiết càng nâng cao trình độ nhận thức và có xu hướng thay đổi hành vi của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ. 5 Yếu tố thái độ được nghiên cứu từ lâu trong hành vi người tiêu dùng thường dựa trên các lý thuyết như thuyết hành vi có dự định hoặc thuyết hành động hợp lý (Sheeran & Taylor, 1999). Những nghiên cứu về thái độ vẫn được tiếp tục tiến hành trong bối cảnh hiện đại hơn cho lĩnh vực thực phẩm.
Nghiên cứu của Cook & cộng sự (2002) về thực phẩm biến đổi gen được tiến hành tại New Zealand. Nghiên cứu đã chỉ ảnh hưởng khác nhau của thái độ và các yếu tố thuộc về thái độ lên người tiêu dùng có độ tuổi, giới tính, hành vi trước đó và sự tin tưởng vào cam kết của nhà sản xuất khác nhau. Nghiên cứu của Olsen & cộng sự (2010) được thực hiện tại 3 nước là Na Uy, Hà Lan và Phần Lan.