MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đậu tương hay đậu nành (Glycine max (L.) Merrill) thuộc cây họ đậu. Đậu tương chứa hàm lượng dinh dưỡng cao bao gồm nhiều nhóm chất như: Protein, chất xơ, vitamin, khoáng chất, bên cạnh đó đậu tương chứa hàm lượng glycemic rất thấp đặc biệt thích hợp với những người bị bệnh tiểu đường. Với những giá trị dinh dưỡng đó đậu tương được sử dụng làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho động vật và là nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến.
Thêm vào đó đậu tương còn có khả năng cải tạo đất tốt do hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ Đậu. Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, phần lớn diện tích đất đai được sử dụng cho việc sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên với sự chuyển mình và phát triển không ngừng của kinh tế xã hội các khu công nghiệp và các khu đô thị được mở rộng, diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm xuống trong đó có diện tích đậu trồng đậu tương, hiện tượng biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp khiến tình trạng xâm nhập mặn ngày càng tăng cao cũng là một trong những yếu tố khiến diện tích trồng đậu tương giảm mạnh. Bên cạnh đó sự phát triển kinh tế khiến cho việc giao thương dễ dàng hơn giá nhập khẩu rẻ hơn trong nước khiến đậu tương trong nước khó cạnh tranh được.
Theo AC Nielsen Việt Nam, Việt Nam đứng thứ 3 Thế giới, sau Trung Quốc, Thái Lan về lượng tiêu thụ sữa đậu nành với khoảng 613 triệu lít/năm và thứ 7 Thế giới tính theo bình quân đầu người với 6,8 lít/người/năm trong khi sản xuất đậu tương trong nước mới đáp ứng khoảng 7% nhu cầu nội địa, chủ yếu để chế biến làm sữa đậu nành và các loại thực phẩm khác, còn lại 93% là nhập khẩu, đa phần để chế biến thức ăn chăn nuôi. Theo Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng năm 2021, nhập khẩu đậu tương đạt trên 1,81 triệu tấn, trị giá trên 1,06 tỷ USD, tăng cả về khối lượng, kim ngạch và giá so với cùng kỳ năm 2020, với mức tăng tương ứng 3,8%, 49% và 43,7%. Như vậy đây là năm đầu tiên mà trị 1 giá nhập khẩu đậu tương vượt mốc 1 tỷ USD. Từ thực tiễn trên có thể thấy việc đầu tư nghiên cứu và xây dựng đồng bộ giải pháp quy hoạch trong trồng và phát triển đậu tương năng suất cao dưới tác động của biến đổi khí hậu nói chung và nạn xâm nhập mặn nói riêng là điều vô cùng cần thiết.
SA xử lý ngoại sinh hoặc được tổng hợp cao trong mô cũng có tác dụng giúp cây trồng chống lại các stress phi sinh học như nóng, mặn, hạn và lạnh (Popova & cs, 1997). SA tham gia vào nhiều quá trình trao đổi chất cũng như các quá trình sinh lý ở thực vật, có vai trò trong quá trình tạo năng suất quả, hấp thu và vận chuyển ion, hiệu suất quang hợp, sự đóng mở khí khổng và thoát hơi nước. Hiện nay, sự phát triển của nền nông nghiệp nước ta đang đi vào mức độ thâm canh cao với việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học với mục đích khai thác, chạy theo năng suất và sản lượng. Chính vì vậy, với sự canh tác trên đã làm cho đất đai ngày càng thoái hóa, dinh dưỡng bị mất cân đối, mất cân bằng hệ sinh thái trong đất, hệ vi sinh vật trong đất bị phá hủy, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồn bệnh tích lũy trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại không dự báo trước.
Chính vì vậy, việc sử dụng vsv sống hoặc các hoạt chất sinh học của các vsv hữu hiệu được phân lập từ tự nhiên không độc hại với con người, động vật và môi trường làm tăng cường hấp thu các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng và cải tạo đất là điều vô cùng cần thiết. Từ cơ sở thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của Salicylic acid và vi sinh vật đến cây đậu tương đen trong điều kiện mặn nhân tạo. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu ảnh hưởng phối hợp của Salicylic acid và vi sinh vật đến sự sinh trường và phát triển của cây đậu tương đen trong điều kiện mặn nhân tạo.
Yêu cầu nghiên cứu Đánh giá ảnh hưởng phối hợp của Salicylic acid và vi sinh vật đến sự sinh trường và phát triển của cây đậu tương đen trong điều kiện mặn nhân tạo. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc cây đậu tương Đậu tương là loại cây công nghiệp có có vai trò quan trọng, là nguồn cung cấp protein thực vật, chứa lượng lớn dầu. Hạt đậu tương có hàm lượng protein chiếm 35,5 - 46%, lipit chiếm 15 – 20%, hydratcacbon chiếm 15 – 16%, chứa nhiều vitamin, vi lượng và muối khoáng quan trọng cho sự sống.
Đậu tương là cây trồng có nguồn gốc từ vùng Mãn Châu (Trung Quốc) trong các ghi chép thời cổ đại xác định cây đậu tương xuất hiện cách đây khoảng 5000 năm. Từ phía Bắc Trung Quốc đậu tương phát triển sang Triều Tiên, Nhật Bản đến thế kỉ XVII thì thâm nhập sang Châu Âu. Ở miền Đông và Nam Trung Quốc đậu tương du nhập vào các nước Đông Nam Á. Tại Việt Nam đậu tương được du nhập và trồng từ thế kỉ XIII.
Hiện nay đậu tương được trồng ở rất nhiều nơi trên Thế Giới, những nước trồng nhiều đậu tương nhất là Mỹ, Brazin, Argentina, Trung Quốc,…Trong đó Mỹ có sản lượng lớn nhất chiếm 50% sản lượng đậu tương toàn cầu. Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) tính đến năm 2014 cây đậu tương được trồng trên 95 quốc gia và vùng lãnh thổ và là một cây trồng mang tính chiến lược đối với một số quốc gia. Giá trị cây đậu tương 2. Giá trị dinh dưỡng Cây đậu tương được trồng chủ yếu để lấy hạt, theo các nghiên cứu hạt đậu tương có nhiều giá trị dinh dưỡng.
Cụ thể theo cơ sở dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) trong hạt đậu tương chứa nhiều protein, các nhóm khoáng chất và vitamin, con số cụ thể được thể hiện dưới bảng sau.1: Giá trị dinh dưỡng trong 100 g hạt đậu tương Giá trị dinh dưỡng trong 100g hạt đậu tương Năng lượng 416 kcal (1741 kJ) Nước 8.9 g Axit béo đơn không bão hòa 4.4 g Axit béo đa không bão hòa 11.9 g Isoflavones 200 mg Canxi 277 mg Sắt 15.7 mg Magie 280 mg Phốt pho 704 mg Kali 1797 mg Natri 2.38 mg Axit folic 375 µg Vitamin A 2.95 mg Nguồn: Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) 5 Bên cạnh đó cũng theo một nghiên cứu khác được công bố bởi USDA trong 1/2 cup (130g) đậu tương đen có chứa lượng calo, chất béo, đường rất thấp, điều này được thể hiện cụ thể dưới bảng sau: Bảng 2.2: Hàm lượng dinh dưỡng trong 130 g đậu tương đen Giá trị dinh dưỡng trong 130 g hạt đậu tương đen Năng lượng 120 kcal Chất đạm 11 g Chất béo 6g Carbohydrat 8g Chất xơ 7g Đường 1g Natri 30 mg Nguồn: Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) Với 130 g đậu tương đen có 8g carbohydrate, chủ yếu là chất xơ (7g) với một lượng nhỏ đường. Mặc dù chưa tính được chỉ số đường huyết chính xác của hạt đậu tương đen, nhưng có thể nói rằng nó có thể giống với các loại đậu khác, có chỉ số đường huyết thấp. Hàm lượng chất xơ cao trong các loại đậu này có nghĩa là chúng sẽ được tiêu hóa chậm hơn, có thể làm giảm tốc độ tăng đường huyết. Đậu tương đen có chứa một số chất béo, nhưng nó chủ yếu là chất béo không bão hòa lành mạnh (chỉ có 1 gam chất béo bão hòa trên 130g đậu tương đen nấu chín).
Giá trị về mặt nông nghiệp Cây đậu tương và các cây họ đậu nói chung có khả năng cố định đạm sinh học nhờ cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium sp. Sau khi thu hoạch thân lá đậu tương để lại là nguồn phân xanh có tác dụng làm tăng chất hữu cơ và 6 dinh dưỡng cho đất. Thân lá đậu tương dùng bón ruộng thay phân hữu cơ rất tốt bởi hàm lượng đạm trong phân chiếm 0. Ngoài tác dụng cải tạo đất và cung cấp nitơ cho đất, đậu tương còn được sử dụng làm thức ăn trong chăn nuôi.
Sản phẩm phụ công nghiệp như khô dầu đậu nành có thành phần dinh dưỡng khá cao N chiếm 6.4% vì thế làm thức ăn cho gia súc rất tốt (Ngô Thế Dân & cs, 1999). Tình hình sản xuất đậu tương 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên Thế giới Đậu tương là một trong tám loại cây lấy đầu quan trọng nhất Thế giới gồm: Đậu tương, cọ, hướng dương, lạc, cải dầu, lanh, bông và dừa (Ngô Thế Dân & cs, 1999). Bên cạnh đó, đậu tương cũng được coi là một thành phần quan trọng trong việc xây dựng hệ thống trồng trọt luân canh do có khả năng tự tích lũy được đạm tự nhiên tồn tại trong khí quyển và cải tạo đất đai.
Với những giá trị mà chúng mang lại đậu tương được trồng ngày càng nhiều, tăng cao cả về diện tích và năng suất, dưới đây là bảng tổng hợp tình hình sản xuất đậu tương trên Thế giới trong giai đoạn 2011 – 2017 do tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAOSTAT) tổng hợp vào năm 2019.3 : Tình hình sản xuất đậu tương trên Thế giới 2011 – 2017 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (Triệu ha) (Tạ/ha) (Triệu tấn) 2011 103.6 Nguồn: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAOSTAT) Cũng theo một công bố khác của tổ chức này thì các nước thuộc Châu Mỹ đang là nơi trồng đậu tương nhiều nhất trên Thế giới cả về diện tích lẫn năng suất mặc dù loại cây này đã được tìm thấy đầu tiên tại một quốc gia Châu Á và trồng nhiều ở các nước khu vực xung quanh. Dưới đây là bảng thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của toàn Thế giới vầ 4 nước trồng nhiều đậu tương nhất Thế giới là Mỹ, Brazil, Argentina và Trung Quốc trong 3 năm 2015 – 2017. Quốc gia Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Diện Năng Sản Diện Năng Sản Diện Năng Sản tích suất lượng tích suất lượng tích suất lượng (tr ha) (tạ/ha) (tr tấn) (tr ha) (tạ/ha) (tr tấn) (tr ha) (tạ/ha) (tr tấn) Thế Giới 120.15 Nguồn: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAOSTAT) 8 Tuy nhiên trong vài năm gần đây Brazil đã vượt qua Mỹ và trở thành nước có sản lượng đậu tương lớn nhất Thế giới.