chương 1 trình bày lại bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu của nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài. Từ đó, định hướng cho toàn bộ nội dung nghiên cứu ở các phần tiếp theo. 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tính quần tụ kinh tế của các doanh nghiệp Quần tụ công nghiệp được xem là quá trình hình thành cụm công nghiệp, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế vùng, và là ngành trụ cột của nền kinh tế quốc dân (Jianlei & Longd. Theo Mulligan (1984) thuật ngữ quần tụ thông thường biểu thị sự tập trung hoặc phân cụm với mật độ phân giải địa lý cao.
Trong khi đó, Marshall (1890) sử dụng thuật ngữ “khu vực công nghiệp” để mô tả sự tập trung gần kề của các doanh nghiệp cùng ngành trong cùng một khu vực địa lí, nhờ đó tạo ra ngoại tác tích cực và lợi thế kinh tế theo quy mô cho các doanh nghiệp trong khu vực. Trong nghiên cứu của Porter (1990) quần tụ được nhắc đến khi những doanh nghiệp, nhà cung cấp, các tổ chức có xu hướng tập trung về mặt địa lý, cạnh tranh với nhau nhưng cùng nhau thực hiện các hoạt động chung. Một khi một quần tụ công nghiệp được hình thành, toàn bộ nhóm các ngành trở nên hỗ trợ lẫn nhau tạo ra nhiều lợi ích như chảy xuôi, chảy ngược và chảy ngang cho các doanh nghiệp trong khu vực. Theo Fujita & Thisse (2009) khái niệm “quần tụ kinh tế” đề cập đến các tình huống rất khác biệt trong thế giới thực.
Một mặt, quần tụ có thể là sự phân chia Bắc- Nam. Mặt khác, quần tụ được minh họa khi các nhà hàng, rạp chiếu phim hoặc cửa hàng bán các sản phẩm tương tự tập trung trong cùng một khu phố. Sự xuất hiện của quần tụ kinh tế gắn liền với sự xuất hiện của sự bất bình đẳng giữa các địa điểm, khu vực hoặc quốc gia. Những bất bình đẳng đó thường là nguồn gốc của sự căng thẳng mạnh mẽ giữa các tổ chức chính trị hoặc khu vực tài phán khác nhau, hoặc các nhóm xã hội, tôn giáo hoặc dân tộc khi họ tập trung về mặt địa lý.
Wang & Han (2023) đề cập đến quần tụ công nghiệp như quá trình tập trung theo không gian nhất định của một số ngành thực hiện các hoạt động sản xuất và bán để thúc đẩy sự nhanh chóng của các yếu tố và nguồn lực khác nhau. Quần tụ công 10 nghiệp chủ yếu bao gồm hai hình thức: quần tụ chuyên môn hóa công nghiệp và đa dạng hóa công nghiệp. Có khá nhiều khái niệm về quần tụ kinh tế, nhưng nhìn chung tất cả khái niệm đều đề cập đến quần tụ kinh tế như một nhóm các doanh nghiệp cùng tập trung với nhau trong một khu vực địa lí. Sự khác biệt giữa các khái niệm thể hiện thông qua mối liên hệ giữa các doanh nghiệp trong một vùng, cụ thể là sự liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành hay các doanh nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau tập trung trong cùng một khu vực.2 Năng suất và hiệu quả Khái niệm về năng suất Năng suất là một trong những thước đo quan trọng để phản ánh hiệu quả của một nền kinh tế.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các định nghĩa cho "năng suất" dựa trên góc độ quan điểm khác nhau. Khái niệm năng suất thay đổi theo thời gian dựa vào sự phát triển của quản lý sản xuất, nhưng nhìn chung hầu hết các nghiên cứu đều nhắc đến năng suất như một mối liên hệ giữa đầu ra và đầu vào. Năng suất được xem như là một chỉ số cơ bản chi phối hoạt động sản xuất của nền kinh tế. Theo Tangen (2002) năng suất trong công nghiệp được định nghĩa là mối quan hệ giữa đầu ra hàng hóa được sản xuất) với đầu vào (các nguồn lực được sử dụng) trong quá trình chuyển đổi sản xuất.
Tức là, một mặt, năng suất được kết nối chặt chẽ với việc sử dụng và tính sẵn có của các nguồn lực. Mặt khác, năng suất được liên kết chặt chẽ với việc tạo ra giá trị. Do đó, năng suất sẽ giảm nếu các nguồn lực của doanh nghiệp không được sử dụng một cách phù hợp hay doanh nghiệp không đủ nguồn lực. Ngược lại, năng suất cao đạt được khi các hoạt động và nguồn lực trong quá trình chuyển đổi sản xuất làm tăng thêm giá trị cho các sản phẩm được sản xuất.
Syverson (2011) định nghĩa năng suất đơn giản thể hiện sự hiệu quả trong quá trình sản xuất, nó thể hiện bao nhiêu sản lượng đầu ra tạo được từ một lượng đầu vào có sẵn. Tác giả phân chia năng suất thành 2 loại cơ bản bao gồm: năng suất đơn nhân tố và năng suất đa nhân tố. Trong đó, năng suất đơn nhân tố bị ảnh hưởng bởi cường 11 độ sử dụng các yếu tố đầu vào bị loại trừ, được thể hiện thông qua năng suất lao động, năng suất vốn, năng suất nguyên liệu. Năng suất đa nhân tố hay năng suất nhân tố tổng hợp TFP phản ánh sự thay đổi trong các đường đồng lượng của một hàm sản xuất.
Doanh nghiệp đạt giá trị TFP cao hơn sẽ tạo ra lượng đầu ra lớn hơn với cùng một tập hợp đầu vào. Ngược lại, doanh nghiệp có TFP thấp hơn sẽ tạo ra lượng đầu ra thấp hơn với cùng một tập hợp đầu vào. Theo Krugman (1994) năng suất được định nghĩa là tỷ lệ giữa khối lượng đầu ra và khối lượng đầu vào. Nói cách khác, năng suất đo lường mức độ hiệu quả của các yếu tố đầu vào sản xuất (như lao động và vốn) được sử dụng trong một nền kinh tế để tạo ra một mức sản lượng nhất định.
Năng suất được coi là nguồn lực chính của tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh, là thông tin thống kê cơ bản cho nhiều so sánh quốc tế và đánh giá hiệu quả hoạt động của quốc gia. Tăng trưởng năng suất là một yếu tố quan trọng để mô hình hóa năng lực sản xuất của các nền kinh tế. Tùy vào nhu cầu và mức độ có sẵn của dữ liệu mà năng suất được ước tính bằng các chỉ số khác nhau. Trong đó, TFP đo lường sự tăng trưởng còn lại không thể giải thích được bằng tốc độ thay đổi trong từ các nhân tố như lao động, vốn và đầu ra trung gian, và thường được hiểu là sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế được tạo ra bởi các yếu tố như đổi mới kỹ thuật và tổ chức.
Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là chỉ tiêu quan trọng đo lường hiệu quả tăng trưởng kinh tế, trong đó đề cập đến sự đóng góp của các yếu tố kỹ thuật và các yếu tố phi kỹ thuật, bao gồm tiến bộ kỹ thuật, cải tiến quản lý và đổi mới thể chế, đối với tăng trưởng kinh tế sau khi trừ lao động và vốn đầu vào (Jianlei & Longdi, 2021). Trong khi, OECD (2001) định nghĩa năng suất lao động là tỷ lệ giữa lượng đầu ra hoặc tổng giá trị gia tăng với lượng đầu vào, với cụ thể số lượng đầu ra có thể là GDP, doanh thu của doanh nghiệp; lượng đầu vào sử dụng ở đây có thể là tổng số lao động làm việc hay số giờ lao động làm việc. 12 Khái niệm về hiệu quả Vấn đề hiệu quả hoạt động có thể không quan trọng trong một thị trường cạnh tranh phát triển tốt, nhưng lại rất quan trọng đối với thị trường ở các nước đang phát triển, nơi mà vấn đề bóp méo thị trường luôn được hiện hữu (Li & Ng; 1995). Thuật ngữ hiệu quả hoạt động lần đầu tiên được định nghĩa bởi Farrell (1957), tác giả cho rằng doanh nghiệp đạt được hiệu quả khi sản xuất được một lượng tối đa đầu ra từ lượng đầu vào cho trước.
Trong đó, ông đề xuất các tiếp cận phi tham số để ước lượng ba loại hiệu quả hoạt động, đó là hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, và hiệu quả giá cả. Theo Tangen (2005) hiệu quả có mối liên hệ chặt chẽ với việc sử dụng các nguồn lực và hiệu quả ảnh hưởng đến đầu vào của yếu tố năng suất. Hiệu quả thường được định nghĩa là nguồn lực tối thiểu cần có về mặt lý thuyết để vận hành hoạt động sản xuất so với nguồn lực được sử dụng trong thực tế. Nói cách khác, hiệu quả cho biết bao nhiêu thiết bị hoặc quy trình được sử dụng trong thực tế so với mức tối đa của nó.
Battese và Coelli (1995) cho rằng doanh nghiệp đạt hiệu quả kỹ thuật khi sản xuất được một lượng đầu ra nhất định với lượng đầu vào tối thiểu. Tương tự, nghiên cứu của Burki & Terrell (1998) chỉ ra doanh nghiệp đạt hiệu quả hoạt động khi tạo ra số lượng đầu ra tối đa có thể với một tập hợp đầu vào nhất định. Đường giới hạn sản xuất đơn giản là sản lượng tối đa có thể đạt được cho mỗi sự kết hợp của các yếu tố đầu vào. Cụ thể, các doanh nghiệp sản xuất ở đường giới hạn hoạt động hiệu quả, trong khi các doanh nghiệp bên trong đường giới hạn hoạt động kém hiệu quả.2 Lược khảo các nghiên cứu có liên quan 2.
Các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả và cách đo lường Nghiên cứu hiệu quả kĩ thuật trong ngành sản xuất giữ vai trò quan trọng và được nhấn mạnh từ nhiều nghiên cứu trước đây. Bhat và cộng sự (2022) đề cập tính cấp thiết từ việc đo lường hiệu quả kỹ thuật để duy trì sự tăng trưởng lâu dài. Bằng 13 cách áp dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) và sử dụng dữ liệu bảng, nghiên cứu phân tích hiệu quả kỹ thuật của ngành công nghiệp CNTT của Ấn Độ trong giai đoạn 2000–2016. Kết quả cho thấy vốn nước ngoài, độ tuổi và tỷ suất lợi nhuận có tác động đáng kể đến việc giảm thiểu hiệu quả kỹ thuật của ngành CNTT trong khi chi cho R&D không có ý nghĩa thống kê trong việc xác định mức độ hiệu quả.
Tác giả cũng nhận định rằng ngành công nghệ thông tin Ấn Độ phải chuyển mình từ giá trị gia tăng thấp sang giá trị gia tăng cao, từ định hướng dịch vụ sang định hướng sản phẩm. Hwang và cộng sự (2022) đánh giá tác động của việc sử dụng công nghệ cốt lõi lên các doanh nghiệp DNVVN. Bài viết dùng dữ liệu chéo cấp độ doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến Hàn Quốc. Bằng cách sử dụng sử dụng phương pháp SFA (Stochastic frontier analysis), kết quả cho thấy việc áp dụng công nghệ mới nổi giúp làm gia tăng năng suất của các doanh nghiệp DNVVN.