đặt vấn đề và nêu lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm chính liên quan đến đề tài nghiên cứu; các lý thuyết nền giải thích cho nghiên cứu. Đặc biệt, tập trung trình bày mối quan hệ giữa chất lượng quản trị nhà nước và FDI, cũng như lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu để xây dựng khung phân tích nhằm nghiên cứu mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 sẽ trình bày quy trình nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là đề xuất mô hình nghiên cứu và cách thức đo lường các biến trong mô hình.
Nội dung chương 3 cũng sẽ trình bày về cách thức thu thập cũng như xử lý dữ liệu để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 sẽ trình bày sơ bộ về các quốc gia Đông Nam Á trước khi đi vào thực hiện các kỹ thuật thống kê để phân tích kết quả nghiên cứu. Kết quả các kiểm định, kết quả hồi quy sẽ được trình bày cụ thể trong Chương 4. Trên cơ sở kết quả 6 có được, đề tài sẽ thực hiện lý giải, phân tích, thảo luận kết quả thu được và so sánh với kết quả của các nghiên cứu trước.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Dựa trên kết quả nghiên cứu được, đề tài sẽ đưa ra kết luận và một số gợi ý chính sách về quản trị nhà nước để nâng cao khả năng thu hút dòng vốn FDI ở Đông Nam Á. Đồng thời, Chương 5 cũng sẽ trình bày những vấn đề còn hạn chế của đề tài, cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo đối với chủ đề liên quan đến đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm chính liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm khái niệm về quản trị nhà nước, FDI. Các lý thuyết nền giải thích cho nghiên cứu về FDI bao gồm Lý thuyết năng suất cận biên vốn, Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm, Lý thuyết chiết trung cũng được giới thiệu trong chương này.
Bên cạnh đó, còn diễn giải mối quan hệ giữa chất lượng quản trị nhà nước và FDI, cũng như lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu để xây dựng khung phân tích phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Quản trị nhà nước Thuật ngữ “Quản trị nhà nước” bắt đầu được sử dụng từ thập niên 1990, gắn với quá trình cải cách khu vực công ở các nước và thực thi mô hình quản lý công mới. Theo Huther và Shah (1996), quản trị nhà nước là các khía cạnh thực hành quyền lực thông qua thể chế chính thức hoặc phi chính thức nhằm quản trị mọi nguồn tài nguyên đã giao cho nhà nước. Kaufmann (1997) cho rằng quản trị nhà nước là các truyền thống và thể chế thực thi quyền lực ở một quốc gia, bao gồm: (i) Chọn người lãnh đạo đất nước như thế nào, giám sát họ ra sao và khi cần thay thế họ ra sao; (ii) Năng lực của chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách có cơ sở và cung cấp dịch vụ công; (iii) Sự tôn trọng của người dân và nhà nước đối với các thể chế điều tiết tương tác kinh tế.
Việc thay đổi từ “quản lý nhà nước” sang “quản trị nhà nước” không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về thuật ngữ mà còn hàm chứa những bước tiến về tư duy trong lý thuyết quản lý công. Nếu “quản lý nhà nước” được hiểu là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội mà trong đó nhà nước đóng vai trò chủ thể quản lý, thì với thuật ngữ “quản trị nhà nước”, nhà nước xuất hiện với hai tư cách trong hoạt động quản trị: Nhà nước vừa là chủ thể quản trị xã hội, vừa là đối tượng được quản trị bởi công dân và các thiết chế xã hội khác. Vì thế, trách nhiệm giải trình cũng như hệ quả hậu giải trình của nhà nước trước công dân và xã hội là những đặc trưng không thể thiếu 8 của mô hình quản trị nhà nước. Mối quan tâm chính của quản trị nhà nước là nhận biết được quyền lực, xác định quyền lực đó được trao cho ai, như thế nào, tổ chức hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ công sao cho hiệu quả, và đảm bảo sự giám sát, tham gia của người dân.
Khái niệm “Quản trị nhà nước tốt” được nhắc đến nhiều vào thập niên 1990 trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ và dân chủ hóa ngày càng mở rộng. Theo Ngân hàng Thế giới (1996), “Quản trị tốt là cách thức sử dụng sức mạnh quyền lực nhà nước để quản lý nguồn lực xã hội vì sự phát triển quốc gia”. Theo UNDP (1997), quản trị nhà nước tốt là việc thực thi các loại quyền lực như kinh tế, chính trị và hành chính để quản lý tốt mọi vấn đề của đất nước ở tất cả các cấp chính quyền. Từ các quan niệm nêu trên, có thể thấy các yếu tố chung cần có để thực hiện quản trị nhà nước tốt bao gồm: (1) Năng lực của nhà nước - mức độ giải quyết vấn đề của các chính phủ và các nhà lãnh đạo; (2) Khả năng ứng phó - liệu các chính sách và thể chế công có đáp ứng nhu cầu của công dân và đề cao quyền của họ hay không; (3) Trách nhiệm - khả năng của công dân, xã hội và khu vực tư nhân giám sát, theo dõi trách nhiệm của các thể chế công và chính phủ.
Đo lường quản trị nhà nước Dự án của Ngân hàng Thế giới, Các chỉ số quản trị toàn cầu (World Bank, Worldwide Governance Indicators) (WB, WGI, 2015) báo cáo các chỉ số quản trị nhà nước tổng hợp và đơn lẻ cho 215 nền kinh tế trong giai đoạn 1996-2014 cho sáu khía cạnh quản trị, đó là: Quyền phát ngôn và chịu trách nhiệm (voice and accountability), Sự ổn định chính trị và không bạo động (political stability and absence of violence), Hiệu quả của chính phủ (government effectiveness), Chất lượng điều hành (regulatory quality), Pháp quyền (rule of law), Kiểm soát tham nhũng (control of corruption). Các chỉ số quản trị toàn cầu WGIs được phát triển bởi Kaufmann và cộng sự (1999) và do đó được gọi là chỉ tiêu quản trị toàn cầu của Kaufmann. Giá trị của tất cả các chỉ số quản trị thay đổi từ -2,5 đến +2,5. Ý nghĩa của từng chỉ số như sau: 9 Quyền phát ngôn (của người dân) và chịu trách nhiệm (của chính quyền): Biến này thể hiện khả năng tham gia của người dân trong việc bầu cử cũng như tự do ngôn luận và tự do truyền thông.
Sự ổn định chính trị và không bạo động: Sự ổn định chính trị được hiểu là mức độ mà chính phủ của quốc gia luôn trong tình trạng ổn định (Shah và Afridi, 2015). Nếu quốc gia có những bất ổn chính trị, chính phủ tại vị có nguy cơ bị giải thể. Các công ty đa quốc gia thích đầu tư vào các quốc gia dân chủ với các chính sách ổn định, thân thiện với doanh nghiệp, và chính sách này sẽ hỗ trợ các khoản đầu tư và kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp. Hiệu quả của chính quyền: Một chính phủ được cho là có hiệu quả nếu người dân được cung cấp dịch vụ chất lượng tốt nhất và cuộc sống của họ không bị áp lực chính trị (Shah và Afridi, 2015).
Các chính phủ hiệu quả có thể tạo điều kiện tốt hơn cho các hoạt động của công ty đa quốc gia. Chất lượng điều hành: Chất lượng điều hành cho thấy khả năng của chính phủ trong việc xây dựng các chính sách hợp lý cho phát triển khu vực tư nhân. Nói cách khác, biến chất lượng điều hành đo lường các chính sách thân thiện với thị trường như bỏ kiểm soát giá hoặc giám sát ngân hàng không hiệu quả cũng như các nỗ lực khác để giảm bớt các quy định quá mức trong các lĩnh vực phát triển kinh doanh và ngoại thương. Pháp quyền: Chỉ số này cho thấy chất lượng thực thi hợp đồng cũng như khả năng phạm tội và bạo lực.
Nguyên tắc pháp quyền theo nghĩa rộng bao gồm: một hệ thống pháp lý hiệu quả, vô tư và minh bạch, bảo vệ tài sản và quyền cá nhân; các tổ chức công cộng ổn định, đáng tin cậy và trung thực; và các chính sách của chính phủ ủng hộ thị trường mở. Kiểm soát tham nhũng: Kiểm soát tham nhũng cho thấy mức độ phổ biến của tham nhũng trong bộ máy chính phủ và khả năng của quan chức để có được những “lại quả” (kickback) thông qua việc khai thác vị trí của họ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 1993) cho rằng: “FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country) không phải nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”. Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO, 1996) lại định nghĩa “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Thu hút vốn đầu tư là những hoạt động, những chính sách của chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và dân cư để nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn thực hiện mục đích đầu tư phát triển.
Thực chất thu hút vốn đầu tư là làm gia tăng sự chú ý, quan tâm của các nhà đầu tư để từ đó dịch chuyển dòng vốn đầu tư vào địa phương hoặc ngành (Nguyễn Huy Thám, 1999). CÁC LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2. Lý thuyết năng suất cận biên vốn Lý thuyết của MacDougall (1960) được coi là một trong những lý thuyết đầu tiên về FDI.