Chương 1. Giới thiệu chung Chương 2. Lý thuyết về sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động ĐTMH Chương 3. Kinh nghiệm quốc tế về sự tham gia của nhà nước vào hoạt động ĐTMH Chương 4.
Thực trạng ĐTMH tại Việt Nam và các biện pháp can thiệp của nhà nước Chương 5. Kết luận và kiến nghị chính sách -5- CHƯƠNG 2. LÝ THUYẾT VỀ SỰ CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC VÀO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ MẠO HIỂM 2. Tổng quan về ĐTMH 2.
Khái niệm ĐTMH “Đầu tư mạo hiểm là đầu tư cổ phần kiên nhẫn và chấp nhận rủi ro cao vào những doanh nghiệp mới, có tính đổi mới cao, hoặc có tiềm năng tăng trưởng nhanh nhưng thiếu độ tin cậy và chưa tỏ rõ khả năng; bởi vậy không giành được sự quan tâm của các thể chế tài chính truyền thống. Thay vì cho vay, các nhà đầu tư góp vốn để giành lấy một cổ phần không có lãi cố định hay quyền sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp mà họ đầu tư” (Lê Quang Huy, 1999). Kết luận này đi sâu vào những điểm cốt lõi của ĐTMH, cụ thể: (i) tính rủi ro – đặc điểm mang tính bản chất của ĐTMH và cũng là đặc điểm để phân biệt với các kênh đầu tư truyền thống khác; (ii) điều kiện cơ bản để các doanh nghiệp nhận được vốn mạo hiểm là phải có tính đổi mới cao, tỏ rõ được tiềm năng tăng trưởng trong tương lai; (iii) phương thức đầu tư là nhà đầu tư góp vốn để sở hữu cổ phần không có lãi cố định trong doanh nghiệp (hoàn toàn khác với việc cho vay lấy lãi của ngân hàng hay các định chế tài chính khác). Dự thảo Thông tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016) hướng dẫn việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của quỹ ĐTMH cho khởi nghiệp sáng tạo (KNST) cũng đưa ra giải nghĩa tương tự về ĐTMH.
Theo đó, “ĐTMH cho đối tượng KNST là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của các đối tượng KNST nhằm thành lập doanh nghiệp hoặc tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm doanh nghiệp chưa có lợi nhuận trước thuế”. Ở đây, ĐTMH được xác định trong mối quan hệ mật thiết với hoạt động khởi nghiệp – chủ đề đang tạo sức “nóng” đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời gian gần đây. Một thuật ngữ khác cần được làm rõ trong mối tương quan với thuật ngữ “đầu tư mạo hiểm” là “hệ sinh thái khởi nghiệp”. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2016) định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp (HSTKN) là sự tương tác giữa một loạt các bên liên quan là các tổ chức kinh doanh, các định chế (là các quỹ ĐTMH, quỹ hưu trí.) và các quá trình kinh doanh để thúc đẩy sự hình thành các DNKN, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs).
Như vậy, ĐTMH là một thành tố then chốt -6- không thể thiếu trong HSTKN, bởi nếu không có vốn thì các start-up khó có cơ hội hiện thực hóa những ý tưởng kinh doanh, từ đó cũng sẽ không có những gã khổng lồ dẫn đầu nền kinh tế thế giới như hiện nay như Google, Apple hay Facebook. ĐTMH là một mắt xích trong HSTKN, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các định chế tài chính, các trường đại học, các doanh nghiệp định hướng công nghệ, các tập đoàn công nghệ lớn. Các mắt xích trong mạng lưới này liên kết, tương tác chặt chẽ, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Sự phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng của HSTKN góp phần thúc đẩy sự phát triển của công nghệ, đổi mới giáo dục, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Sơ đồ hệ sinh thái khởi nghiệp Chính sách Các thị trường địa Chính Phủ phương và toàn cầu Khuôn khổ luật pháp và cơ sở hạ tầng Nhân lực và lao động Kinh phí và HỆ SINH THÁI tài chính KHỞI NGHIỆP Giáo dục và đào tạo Văn hóa Các trường đại Các nhà tư học đóng vai trò vấn, cố vấn, hệ xúc tác thống hỗ trợ Nguồn: Diễn đàn kinh tế Việt Nam, 2013 -7- 2. Vai trò của ĐTMH đối với sự phát triển kinh tế Hoạt động ĐTMH là một trong những xúc tác quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Sự lớn mạnh của những công ty đa quốc gia, những tập đoàn quốc tế với trình độ phát triển ngày càng cao về công nghệ đã thôi thúc các quốc gia đang phát triển đầu tư vào công nghệ, nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng bền vững. Lúc này vốn mạo hiểm, tinh thần khởi nghiệp trở thành bàn đạp đối với nền kinh tế, là điều kiện cần để một quốc gia, một khu vực đang tụt hậu so với thế giới có thể bứt phá đi lên.
Vai trò của ĐTMH đối với nền kinh tế được cụ thể hóa như sau: Thứ nhất, các quỹ ĐTMH là kênh cung cấp vốn hấp dẫn đối với các DNKN, giúp họ hiện thực hóa những ý tưởng kinh doanh sáng tạo, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN). Trong khi đó, những thể chế tài chính truyền thống với yêu cầu khắt khe về tài sản thế chấp đã tạo rào cản trong việc tiếp cận vốn của những công ty này. Ngoài ra, do nguyên tắc hoạt động của các quỹ ĐTMH là đầu tư vào những dự án có tiềm năng và rủi co cao hơn mức bình thường nên các công ty quản lý quỹ luôn phải nâng cao trình độ, năng lực quản lý của mình và hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp. Chính điều này đã giúp quá trình nghiên cứu, tìm kiếm, thử nghiệm và phát triển một ý tưởng KH&CN thành phát minh sáng chế, từ đó thương mại hóa thành sản phẩm.
Quá trình biến một ý tưởng thành sản phẩm đòi hỏi một lượng vốn lớn. Nếu không đủ vốn thì các ý tưởng sẽ không thể thực hiện được. Khi càng nhiều ý tưởng được tài trợ thì các quỹ ĐTMH càng có nhiều khả năng thu được lợi nhuận. Cứ như vậy, kết quả của việc gia tăng vốn ĐTMH là KH&CN càng phát triển.
Nhờ các quỹ ĐTMH mà ở thời điểm hiện tại, cộng đồng quốc tế được thụ hưởng những lợi ích lớn từ các sản phẩm chứa đựng hàm lượng công nghệ cao như dịch vụ của Facebook, Google… Rõ ràng, ĐTMH đóng góp rất lớn cho quá trình tạo ra những bước phát triển đột phá về KH&CN cũng như góp phần tăng trưởng kinh tế; Thứ hai, hoạt động ĐTMH tạo điều kiện cho vòng xoáy đi lên. Những hoạt động của các doanh nghiệp tiên phong và các nhà ĐTMH thường mở đường cho các thế hệ đi sau. Theo Lerner (2009), nhiều doanh nghiệp đi đầu với vai trò là những “học viện về khởi nghiệp” đã mở ra một cuộc cách mạng về khởi nghiệp với sự tham gia đông đảo của cộng đồng doanh nhân, kết quả là sự mọc lên nhanh chóng của một thế hệ doanh nghiệp mới đầy sáng tạo và không ngừng nỗ lực đổi mới công nghệ. Fairchild Semiconductor là công ty tiên phong trong lĩnh vực bán dẫn của Mỹ, được thành lập năm 1956 và sau đó, các công ty -8- khác như Cirrus Logic, Intel, LSI, và Công ty bán dẫn quốc gia lần lượt ra đời như một làn sóng mạnh mẽ mở ra bước phát triển thần tốc cho Mỹ trong ngành công nghiệp sản xuất chất bán dẫn.
Chính phủ là nhà cung cấp các khoản trợ cấp cho những công ty này do những kết quả kinh doanh của họ không chỉ mang lại lợi ích cho bản thân công ty mà còn tạo ra lợi ích đối với toàn xã hội. Những sản phẩm bán dẫn ngày nay được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới là minh chứng cho tác động lan tỏa của hoạt động ĐTMH; Thứ ba, hoạt động ĐTMH tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK). Một trong những hình thức thoái vốn của các quỹ ĐTMH là chào bán chứng khoán của công ty nhận đầu tư ra công chúng, biến các công ty này từ cổ phần tư nhân thành công ty đại chúng. Vì vậy, hoạt động ĐTMH sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp chưa niêm yết mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh đến mức có thể phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn.
Kết quả của phương thức thoái vốn này là làm tăng số lượng các công ty trên TTCK, tạo tiền đề cho sự phát triển của thị trường sơ cấp (IPO). Ngược lại, khi một TTCK phát triển cũng tạo điều kiện để các quỹ mở rộng hoạt động đầu tư hiệu quả, làm tăng tính thanh khoản cho các danh mục đầu tư của quỹ. Ngoài ra, hoạt động ĐTMH còn tạo ra những lợi ích gián tiếp khác đối với nền kinh tế. Đó là tăng trưởng việc làm, tăng khả năng cạnh tranh của các đối tượng kinh doanh cùng một loại sản phẩm, dịch vụ trong nền kinh tế, đặc biệt giúp quá trình lan tỏa tri thức diễn ra nhanh chóng hơn.
Lerner (2009) đã chỉ ra rằng, đổi mới sáng tạo có tác động lan tỏa tích cực đến toàn xã hội. Nhiều công ty đã tạo ra những lợi ích lớn cho xã hội hơn sự kỳ vọng của họ. Amazon là một ví dụ điển hình, sau một thập kỷ hoạt động công ty đã cung cấp các cuốn sách và những hàng hóa khác có sẵn cho những người không sống gần các hiệu sách hoặc những nhà bán lẻ. Như vậy, các công ty như Amazon đã tạo ra cầu nối tri thức cho công dân trên toàn cầu bởi kho sách phong phú và dịch vụ vận chuyển tiện lợi.
Can thiệp của nhà nước đối với hoạt động ĐTMH Với những tác động tích cực đối với nền kinh tế như đã phân tích ở trên, nhà nước nên khuyến khích hoạt động ĐTMH nhằm gia tăng lợi ích cũng như nhân rộng các mô hình KNST trong nền kinh tế. Như vậy, sự can thiệp của nhà nước đối với hoạt động ĐTMH là cần thiết. Điều này được giải thích dựa trên những lý thuyết kinh tế sau: -9- Thứ nhất, hoạt động ĐTMH cũng như những hoạt động khác trong nền kinh tế luôn xảy ra thất bại thị trường. Một trong những thất bại điển hình trên thị trường ĐTMH là vấn đề ngoại tác4.
Ngoại tác trên thị trường ĐTMH được nhìn nhận là dạng ngoại tác tích cực, vì vậy, nhà nước cần có biện pháp can thiệp để thúc đẩy thị trường phát triển và làm giảm tổn thất xã hội.