ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những nước có nền thủy sản phát triển mạnh, do có đường bờ biển dài 3260 km, có tổng 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông rạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển là những khu vực có điều kiện phát triển cao về nuôi trồng thủy sản cả về nước ngọt và lợ mặn (Thanh Minh, 2012). Nuôi trồng thủy sản nước lợ mặn ở Việt Nam có tiềm năng cao, trong đó nghề nuôi tôm Sú đang rất phát triển. Về diện tích thả nuôi tôm đến tháng 8 năm 2019 đạt 689.516 ha (tăng 0,5% so với cùng kỳ 2018), diện tích thả nuôi tôm Sú là 600. Sản lượng thu hoạch đạt 444.404 tấn (tăng 15,0% so với cùng kỳ 2018), và sản lượng tôm Sú 161.
Tôm Sú (Penaeus monodon) là loài có giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ lớn, năng suất cao. Tuy nhiên, nghề nuôi gần đây gập nhiều biến động và khó khăn trong quá trình nuôi. Một trong những khó khăn đó là do khả năng miễn dịch của tôm kém dẫn đến dễ mắc bệnh và gây ra thiệt hại lớn cho người nuôi. Để khắc phục khó khăn này, Prebiotic được biết đến và sử dụng như là một chất tăng khả năng miễn dịch với những bệnh do vi khuẩn đường ruột ở vật nuôi.
Theo Gibson và cộng sự (2004), prebiotic là một thành phần lên men chọn lọc mà cho phép có những thay đổi đặc trưng, bao gồm thay đổi trong thành phần và/hoặc hoạt động của hệ vi sinh vật đường ruột mà mang lại những lợi ích đối với sức khỏe của vật chủ. Prebiotic có những tác dụng có lợi cho sức khỏe và giảm nguy cơ mắc bệnh một cách gián tiếp thông qua việc làm biến đổi hệ vi sinh vật đường ruột và tạo các SCFA. Tuy nhiên, Ứng dụng prebiotic trong nuôi trồng thủy sản còn tương đối mới, mặc dù prebiotic đã được nghiên cứu báo cáo nhiều về tác dụng và hữu ích của nó như làm tăng miễn dịch ở ruột, tăng tỉ lệ sống, giúp tăng trưởng, giảm tỉ lệ chết.ở nhiều loài thủy sản. Nhưng cụ thể là ở loài tôm Sú (Penaeus monodon) thì chưa được nghiên cứu nhiều.
Vì thế mà chuyên đề “Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung prebiotic chiết xuất từ Bifidobacterium bifidum lên khả năng miễn dịch của tôm Sú (Penaeus monodon)” được thực hiện nhằm đánh giá được khả năng miễn dịch của tôm. Từ đó đưa ra những kết luận và báo cáo về những hữu ích và giá trị của việc ứng dụng sử dụng prebiotic vào trong nuôi trồng thủy sản.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá khả năng miễn dịch của tôm Sú (Penaeus monodon) thông qua việc bổ sung prebiotic chiết xuất từ Bifidobacterium bifidum trong thức ăn .3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Tôm Sú (Penaeus monodon) 25 ngày tuổi được mua tại trại giống của người dân tại Kiên Lương. Prebiotic bao gồm BFc, BFn và Glucan BFc: Bifidobacterium bifidum gây sốc với CO2 BFn: Bifidobacterium bifidum gây sốc với nhiệt độ Glucan: sản phẩm thương mại.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Bố trí thí nghiệm gây cảm nhiễm vi khuẩn Vibro parahaemolyticus trên tôm Sú và bổ sung các loại prebiotic gồm BFc và BFn gồm liều lượng: 1g/kg, 2g/kg, 4g/kg, 8g/k với các nội dụng thực hiện sau: Đánh giá khả năng miễn dịch của tôm thông qua các chỉ tiêu: tổng số bạch cầu, Phenoloxidase (PO), respiratory burst (RES) và superoxide dismutase (SD).5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Khi phối trộn prebiotic chiết xuất từ Bifidobacterium bifidum vào thức ăn giúp đánh giá được khả năng miễn dịch của tôm Sú (Penaeus monodon). 2 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 GIỚI THIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nhằm đánh giá khả năng miễn dich ở tôm Sú nên đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung prebiotic chiết xuất từ Bifidobacterium bifidum lên khả năng miễn dịch của tôm Sú (Penaeus monodon)” được thực hiện.2 PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM SÚ 2.1 Phân loại Theo hệ thống phân loại ITIS (itis.gov) tôm Sú được phân loại như sau: Giới Animalia Ngành Arthropoda Lớp Malacostraca Bộ Decapoda Họ Penaeidae Giống Penaeus Loài Penaeus monodon Fabricius, 1798 Tên tiếng anh: Giant tiger prawn Tên tiếng việt: Tôm Sú Hình 1.2 Đặc điểm sinh học 2.1 Đặc điểm hình thái Theo Lê Văn Lễnh (2017), cơ thể tôm chia thành 2 phần: đầu ngực và phần bụng.
Phần đầu gồm 14 đôi phụ bộ bao gồm: - 1 mắt kép có cuống mắt - 2 đôi râu: Anten 1 (A1) và Anten 2 (A2). A1 ngắn, đốt 1 lớn và có hóc mắt, có hai nhánh ngắn. A2 có nhánh ngoài biến thành vẩy râu, nhánh trong kéo dài, có chức ngăn khứu giác và giữ thăng bằng. - 3 đôi hàm: 1 đôi hàm lớn, 1 đôi hàm nhỏ 1 và 1 đôi hàm nhỏ 2.
- 3 đôi chăn hàm: có chức năng giữ mồi ăn mồi và bơi lội. - 5 đôi chân bò hay chăn ngực, giúp cho tôm bò trên mặt đáy. Chân bò 4,5 không có cấu tạo dạng kìm. Ở chân bò 4,5 ở con cái có thelycum (cơ quan sinh dục ngoài, nơi nhận và giữ túi tinh do con đực chuyển sang).
- Phần đầu ngực đươc bảo vệ bởi giáp đầu ngực, phía trước có vỏ giáp đầu ngực có chủy đầu (chủy hình lưỡi kiếm, có gai trên và dưới chủy). Phần bụng có 7 đốt, 5 đốt đầu mỗi đốt mang một đôi chân bơi (chân bụng), mõi chân bụng có một đốt chung bên trong và bên ngoài chia làm hai nhánh (nhánh trong và nhánh ngoài), đốt thứ 7 biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phân nhánh tạo thành đuôi, ở tôm đực chân bụng 1 biến thành petasma và hai nhánh trong đôi phụ bộ 2 biến thành đôi phụ bộ đực (Nguyễn Trọng Nho, 2006).2 Đặc điểm dinh dưỡng Theo Lê Văn Lễnh (2017) thì tôm Sú là loài ăn tạp nhưng thiên về động vật, ngoài tự nhiên tôm tích cực bắt mồi vào ban đêm, lúc triều cường và lúc triều lên. Tính ăn của tôm thay đổi phụ thuộc vào giai đoạn phát triển, có thể ăn thịt lẫn nhau khi lột xác hoặc thiếu thức ăn. Theo Lê Văn Lễnh (2017), Dinh dưỡng của tôm qua các giai đoạn như sau: - Giai đoạn Nauplius: Ấu trùng tôm dinh dưỡng bằng noãn hoàn dự trữ, chưa ăn thức ăn ngoài.
- Giai đoạn Zoea: Ấu trùng ăn lọc, ăn liên tục, thức ăn là động vật nổi chủ yếu là tảo silic điển hình như loài Skeletonema costatum, chaetocerot,. 4 - Giai đoạn Mysis: Bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu như luân trùng Artemia, Branchionus plicatilis, ấu trùng giáp xác, động vật thân mền,. - Thời kì ấu niên đến trưởng thành: Từ thời ấu niên tôm thể hiện tính ăn của loài, thức ăn là các động vật giáp xác khác, động vật thân mền, giun nhiều tơ, cá nhỏ, rong tảo, xác động thực vật chết,.3 Đặc điểm sinh trưởng Tôm Sú là loài giáp xác có lớp vỏ kitin bao bọc bên ngoài cơ thể, cho nên sự sinh trưởng của tôm mang tính gián đoạn và đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và trọng lượng. Khi trọng lượng và kích thước tăng lên tôm phải tiến hành lột xác, quá trình này được diễn ra vào ban đêm.
Tôm có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh. Tôm con có tốc dộ tăng trưởng nhanh và càng về sau tốc độ tăng trưởng giảm. Tôm Sú có kích thước khá lớn con đực có thể đạt 24,7cm và con cái có thể đạt 26,6cm (Lê Văn Lễnh, 2017). Từ ấu trùng đến đầu thời kì thiếu niên không có sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa con đực và cái, tuy nhiên đến cuôi thời kì thiếu niên thì con cái lớn nhanh hơn con đực (Nguyễn Trọng Nho, 2006).
Theo Motoh (1981), tuổi thọ tôm Sú đực khoảng 1,5 năm và tôm cái khoảng 2 năm.4 Đặc điểm sinh sản Tôm Sú không có tập tính kết đàn và di cư giao vĩ (Nguyễn Trọng Nho, 2006). Ở chân bò 4,5 ở con cái có thelycum đây là cơ quan sinh dục ngoài, nơi nhận và giữ túi tinh do con đực chuyển sang. Ở tôm đực Petasma nằm giữa đôi chân bò thứ 1 (Nguyễn Trọng Nho, 2006). Tôm Sú có con đực nhỏ hơn con cái, vào mùa giao phối con cái lột xác không bơi mà nằm sát đáy, con đực đến và bắt đầu giao phối.
Tinh trùng của con đực sẽ chuyển sang túi chứa tinh trùng của con cái, sau đó buồng trứng của con cái sẽ phát triển. Sau khi giao phối, con cái hầu như không lột xác nữa và cũng không phát triển kích thước. Theo Trần Minh Anh (1989), Các giai đoạn phát triển buồng trứng của tôm chia thành 5 giai đoạn: - Giai đoạn chưa phát triển (Undevoloped): Buồng trứng mền, nhỏ trong không nhìn thấy qua vỏ kitin. 5 - Giai đoạn phát triển (Developing): Buồn trứng lớn hơn kích thuốc ruột, có màu trắng đục, hơi vàng rải rác các tế bào sắc tố đen (tế bào melamin).
- Giai đoạn gần chín (Nearly ripe): Kích thước buồng trứng tăng nhanh, có thể nhìn thấy qua vỏ kitin, màu vàng xanh đến xanh nhạt. - Giai đoạn chín (Ripe): Kích thước buồng trứng đạt cực đại, căng tròn, màu xanh xám đậm, ở đốt bụng thứ 1 buồng trứng phát triển lớn chảy xệ ra hai bên tạo thánh cánh tam giác. - Giai đoạn đẻ rồi (spent): Kích thước buồng trứng vẫn lớn, mềm và nhăn nheo, trong buồng trứng vẫn còn trứng chưa đẻ.3 CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TÔM SÚ 2.1 Nhiệt độ Trong nuôi trồng thủy sản nhiệt độ được xem là yếu tố môi trường quan trọng nhất ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sinh vật (Cossins and Bowler, 1987). Theo Whetstone et al., (2002) tôm có thể sống tốt ở nhiệt độ 23–34ºC , tối ưu là 26–29ºCvà nhiệt độ trong ngày không thay đổi quá 5ºC (Boyd et al.
Tôm cũng như các động vật khác sống trong môi trường nước đều thuộc nhóm máu lạnh, nhiệt độ cơ thể thay đổi theo môi trường bên ngoài, vì vậy khi nhiệt độ thay đổi sẽ ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi, tiêu hóa thức ăn, tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống (Vũ Thế Trụ, 1994). Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của tôm dao động từ 25-30oC, nếu nhiệt độ thấp hơn 15oC hoặc trên 35oC, hoạt động của tôm trở nên không bình thường và có thể dẫn đến chết (Nguyễn Văn Chung, 2000). Trong ao nuôi tôm Sú, nhiệt độ thích hợp nhất dao động 28-30oC (Pushparajan and Soundarapandian, 2010) và trong ương nuôi ấu trùng, nhiệt độ nên duy trì từ 28-30oC (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009).2 Độ mặn Độ mặn giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa áp suất thẩm thấu giữa nguyên sinh chất của tôm Sú và nước. Độ mặn vượt ra ngoài giới hạn thích ứng của tôm nuôi sẽ gây ra các phản ứng sốc cho cơ thể, làm giảm khả năng kháng bệnh của chúng.