lời mở đầu về khả năng của họ (Nanjundeswaras & Swamy, 2014). Lãnh đạo chuyển đổi là phong cách lãnh đạo có khả năng khuyến khích và thúc đẩy người theo dõi thay đổi theo hướng tích cực. Những thay đổi này dựa trên sự nhận thức chủ động của người theo dõi, có được thông qua sự mở rộng tư duy bởi người lãnh đạo cung cấp. Công việc và ý nghĩa của nó được người lãnh đạo đề cập đầy đủ, đây là động lực then chốt để người theo dõi cống hiến hết mình.
Phong cách lãnh đạo này không chỉ dừng lại ở việc tạo sự lôi cuốn và hấp dẫn mà còn thách thức khả năng trí tuệ của người theo dõi, giúp họ vượt ra khỏi biên giới năng lực trong suy nghĩ của mình. Ngoài ra, giao tiếp hai chiều và sự sẵn sàng phản hồi của lãnh đạo với từng người cũng được đề cập đến trong lãnh đạo chuyển đổi. Đây vừa là động lực thúc đẩy vừa là sự dẫn dắt, 6 hướng dẫn để hoàn thành công việc. Kết quả là người theo dõi đạt được mức độ hài lòng cao hơn, từ đó nâng cao hiệu suất.
Lãnh đạo chuyển đổi giả (phi đạo đức, xu hướng cá nhân hóa dựa trên sự thống trị cá nhân và hành vi độc đoán, tự đề cao bản thân, phục vụ lợi ích riêng và bóc lột người khác) được phân biệt với lãnh đạo chuyển đổi đích thực là ở xu hướng xã hội hóa khi mà dựa trên hành vi bình đẳng, phục vụ lợi ích tập thể, phát triển và trao quyền cho người khác. Một trong những niềm tin vững chắc của James MacGregor Burns rằng để chuyển đổi các nhà lãnh đạo phải nâng cao đạo đức. Sự hiệu quả của lãnh đạo chuyển đổi gắn liền với yếu tố đạo đức của người lãnh đạo, được chứng minh thông qua nhiều nghiên cứu (Parry & Proctor-Thompson, 2002; Banerji & Krishnan, 2000 trích dẫn trong Riggio & Bass, 2006). Qua đó, có thể nhận định phong cách lãnh đạo chuyển đổi là cách mà nhà lãnh đạo giúp người theo dõi cam kết với tầm nhìn và mục tiêu chung, đạt được hiệu suất công việc và thậm chí vượt mong đợi của chính họ bằng cách thúc đẩy sự thay đổi theo đúng giá trị, năng lực và sở thích của từng cá nhân.
Người lãnh đạo cung cấp cả thách thức lẫn sự hỗ trợ thông qua ảnh hưởng lý tưởng hóa, truyền cảm hứng, kích thích trí tuệ và cân nhắc cá nhân hóa. Thành phần của phong cách lãnh đạo chuyển đổi Lãnh đạo chuyển đổi làm việc nhiều với người theo dõi hơn là thiết lập các trao đổi và thỏa thuận đơn giản. Họ thực hiện những cách thức nhằm mang lại kết quả vượt trội bằng cách sử dụng một hoặc cả bốn yếu thành phần cốt lõi của lãnh đạo chuyển đổi. Theo Riggio & Bass (2006) bốn thành phần bao gồm ảnh hưởng lý tưởng hóa, động lực truyền cảm hứng, kích thích trí tuệ và cân nhắc cá nhân hóa.
Ảnh hưởng lý tưởng hóa (Idealized Influence): Phong cách lãnh đạo chuyển đổi là người lãnh đạo hành xử theo những cách cho phép họ đóng vai trò là hình mẫu cho những người theo dõi họ. Các nhà lãnh đạo được ngưỡng mộ, tôn trọng và tin tưởng. Những người theo dõi lấy người dẫn đầu làm hình mẫu và muốn bắt chước họ; Các nhà lãnh đạo được những người theo dõi gán nhãn cho họ là có khả năng, sự kiên trì và quyết tâm phi thường. Do đó, có hai khía cạnh đối với ảnh hưởng lý tưởng hóa: hành vi của người lãnh đạo (ảnh hưởng bằng hành vi - Idealized influence behavior) và các yếu tố được quy cho người lãnh đạo bởi những người theo dõi và các đồng nghiệp khác (ảnh hưởng bằng sự quy kết - Idealized influence attributed factor).
Ngoài ra, các nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lý tưởng hóa cao sẵn sàng chấp nhận rủi ro và nhất quán hơn là tùy tiện. Họ 7 có thể được tin tưởng để làm điều đúng đắn, thể hiện các tiêu chuẩn cao về hành vi chuẩn mực và đạo đức. Động lực truyền cảm hứng (Inspirational Motivation): Các nhà lãnh đạo chuyển đổi hành động theo những cách thúc đẩy và truyền cảm hứng cho những người xung quanh bằng cách cung cấp ý nghĩa và thách thức đối với công việc của những người theo dõi họ. Tinh thần đồng đội được khơi dậy.
Sự nhiệt tình và lạc quan được thể hiện. Các nhà lãnh đạo có được những người theo dõi tham gia vào việc hình dung các trạng thái tương lai hấp dẫn; Họ tạo ra những kỳ vọng được truyền đạt rõ ràng mà những người theo dõi muốn đáp ứng và cũng thể hiện cam kết với các mục tiêu và tầm nhìn chung. Kích thích trí tuệ (Intellectual Stimulation): Các nhà lãnh đạo chuyển đổi kích thích nỗ lực đổi mới và sáng tạo của những người theo dõi họ bằng cách đặt câu hỏi về các giả định, định hình lại các vấn đề và tiếp cận các tình huống cũ theo những cách mới. Sáng tạo được khuyến khích.
Không có lời chỉ trích công khai về sai lầm của từng thành viên. Những ý tưởng mới và giải pháp vấn đề sáng tạo được thu hút từ những người theo dõi, những người được đưa vào quá trình giải quyết vấn đề và tìm giải pháp. Những người theo dõi được khuyến khích thử các cách tiếp cận mới và ý tưởng của họ không bị chỉ trích vì chúng khác với ý tưởng của các nhà lãnh đạo. Cân nhắc cá nhân hóa (Individualized Consideration): Các nhà lãnh đạo chuyển đổi đặc biệt chú ý đến nhu cầu của từng người theo dõi để đạt được thành tích và phát triển bằng cách đóng vai trò là huấn luyện viên hoặc cố vấn.
Những người theo dõi và đồng nghiệp được liên tục phát triển khả năng đến mức cao hơn. Cân nhắc cá nhân hóa được thực hiện khi các cơ hội học tập mới được tạo ra cùng với môi trường hỗ trợ. Sự khác biệt cá nhân về nhu cầu và mong muốn được công nhận. Hành vi của người lãnh đạo thể hiện sự chấp nhận sự khác biệt cá nhân (ví dụ: một số nhân viên nhận được nhiều động viên hơn, một số tự chủ động hơn, có những người có nhiệm vụ đơn giản hơn và cũng có những người có cấu trúc nhiệm vụ phức tạp hơn).
Một trao đổi hai chiều trong giao tiếp được khuyến khích, và "quản lý bằng cách đi bộ xung quanh" không gian làm việc được thực hiện. Tương tác với những người theo dõi được thực hiện theo từng cuộc trò chuyện (ví dụ: người lãnh đạo nhớ các cuộc trò chuyện trước đó, nhận thức được mối quan tâm cá nhân và xem cá nhân là một chỉnh thể toàn diện chứ không chỉ là một nhân viên). Người lãnh đạo quan tâm cá nhân sẽ lắng nghe một cách hiệu quả. Người lãnh đạo giao nhiệm vụ như một phương tiện để phát triển những người theo dõi.
Các nhiệm vụ được ủy quyền được theo dõi để xem liệu những người theo dõi có cần chỉ đạo hoặc hỗ trợ bổ sung hay không và để đánh giá tiến độ; Lý tưởng nhất là những người theo dõi không cảm thấy họ đang bị kiểm tra. Cơ sở lý thuyết về hành vi chia sẻ kiến thức trong tổ chức 1. Khái niệm về kiến thức trong tổ chức Đến thời điểm hiện tại có rất nhiều cách hiểu về kiến thức nhưng vẫn chưa có một kết quả nào mà được tất cả mọi người chấp nhận. Nó được định nghĩa trong nhiều ngành khoa học khác nhau, từ triết học thuở sơ khai cho đến tâm lý học hoặc trong ngành khoa học quản lý.
Trong đó, nổi bật là mô hình phân cấp DIKW(Ackoff, 1989), được nhiều tác giả dùng để định vị khái niệm kiến thức trong 3 khái niệm tương quan khác là dữ liệu, thông tin và trí tuệ. Tác giả được cho là cha đẻ của mô hình khái niệm này chính là Ackoff. Bên cạnh đó, trong đề án này cũng sẽ làm rõ khái niệm kiến thức trên góc nhìn của khoa học quản lý. Nội dung chính của kim tự tháp khái niệm từ kiến thức đến trí tuệ DIKW là việc xử lý nội dung của các cấp độ thấp hơn thông qua tích lũy, tổng hợp và lọc theo một số tiêu chí.
Nội dung ở cấp cao hơn thu được nhờ xử lý các nội dung ở cấp thấp hơn, theo đó thì mức độ phức tạp cũng tăng lên và đây là quá trình phi tuyến tính. Đây được đánh giá là mô hình đơn giản hóa của một quá trình phức tạp và hầu hết chưa được đánh giá sự ảnh hưởng bởi các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, trí thông minh và văn hóa của từng cá nhân. Ngay cả khi đánh giá các yếu tố này đi chăng nữa thì giữa các cá nhân cũng có sự khác biệt nhất định (Bratianu & Bejinaru, 2023). Phán quyết Tìm hiểu các giá trị Trí tuệ Giảm độ Chứng minh niềm tin Kiến thức phức tạp Tìm hiểu các quy luật Thông tin Ý nghĩa Dữ liệu Tìm hiểu các mối quan hệ Hình 1.1: Hệ thống phân cấp DIKW (Nguồn: Bratianu & Bejinaru, 2023) Mô hình cho ta cái nhìn tổng quát và hệ thống nhưng lại rất dễ hiểu về kiến thức.
Với dữ liệu là những mảng tồn tại độc lập, thì thông tin là sự kết nối những mảng độc lập với nhau thành những nhóm bằng những tiêu thức phân loại cụ thể. Từ thông tin, chúng 9 ta tìm hiểu và chứng minh được các quy luật tồn tại khách quan với nhận thức của con người để làm nền tảng ra quyết định cho mọi hoạt động, đó gọi là kiến thức. Cuối cùng là trí tuệ, là cách thức chúng ta sử dụng kiến thức, hay nói cách khác là chúng ta ra phán quyết trong thực tế dựa trên kiến thức đã có. Đối với cá nhân, kiến thức có được thông qua học tập bằng nhiều cách, có thể là tiếp nhận trên cơ sở có sẵn hoặc tự chứng minh cho riêng mình mà thường là đúc rút thành kinh nghiệm.
Cho nên sẽ có sự khác nhau về mức độ phong phú và chính xác của kiến thức ở mỗi cá nhân. Trong quản lý, kiến thức được hiểu là sự hiểu biết, nhận thức hoặc quen thuộc có được thông qua nghiên cứu, điều tra, quan sát hoặc kinh nghiệm theo thời gian. Đó là cách giải thích thông tin của một cá nhân dựa trên kinh nghiệm, kỹ năng và năng lực cá nhân. Còn đối với tổ chức thì kiến thức được gán cho những gì mà mọi người hiểu biết về khách hàng, sản phẩm, quy trình, sai lầm và thành công.
Nó nằm trong cơ sở dữ liệu (CSDL) hoặc thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm và thực tiễn, hoặc thông qua các nguồn thông tin khác cả bên trong lẫn bên ngoài tổ chức (Bollinger & Smith, 2001).