Tổng quan nghiên cứu

Huyện An Dương là địa bàn cửa ngõ chiến lược phía Tây Bắc thành phố Hải Phòng với diện tích tự nhiên 97,6 km2 cùng quy mô dân số khoảng 148.000 người, phân bổ đồng đều tại 15 xã và 1 thị trấn. Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển kinh tế công nghiệp diễn ra mạnh mẽ, đời sống tinh thần của gần 67.000 người trong độ tuổi lao động tại địa phương đang trải qua những bước chuyển biến sâu sắc. Tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tâm linh của cư dân vùng ven đô này. Thống kê thực tế cho thấy toàn huyện có 17.890 tín đồ Phật tử chính thức, chiếm khoảng 12,1% tổng dân số, cùng hệ thống 68 ngôi chùa phân bố rộng khắp các làng xã.

Mặc dù giữ vai trò to lớn trong việc định hình chuẩn mực đạo đức xã hội, sinh hoạt Phật giáo tại An Dương đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như sự chênh lệch về trình độ nhận thức giáo lý, nguy cơ thương mại hóa hoạt động lễ bái, tình trạng sư giả mạo và tranh chấp đất đai tại các cơ sở tự viện. Luận văn thạc sĩ triết học tập trung làm rõ thực trạng tác động đa chiều của tư tưởng, đạo đức và sinh hoạt Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân huyện An Dương trong giai đoạn lịch sử từ năm 1985 đến năm 2009. Thông qua việc phân tích cả giá trị nhân văn tích cực lẫn những hạn chế tiêu cực, công trình hướng tới mục tiêu đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về tôn giáo, phát huy nguồn lực đạo đức Phật giáo trong xây dựng đời sống văn hóa mới tại 16 xã và thị trấn của huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được triển khai dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong Triết học Mác - Lênin. Luận văn đồng thời quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh cùng hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về mặt lý luận tôn giáo, đề tài khai thác sâu sắc hệ thống thế giới quan Phật giáo bao gồm các quy luật vận động nội tại như thuyết duyên khởi, tính chất vô thường, vô ngã của vạn pháp và quy luật nhân quả nghiệp báo. Về phương diện nhân sinh quan, khung lý thuyết tập trung vào học thuyết Tứ diệu đế gồm Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế, gắn liền với con đường thực hành Bát chính đạo và Thập nhị nhân duyên. Nghiên cứu xác định các phạm trù chuẩn mực đạo đức nền tảng gồm Ngũ giới, Thập thiện nghiệp, Tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả và tinh thần vô ngã vị tha, làm thước đo để soi chiếu tác động đối với ý thức xã hội và đời sống văn hóa tinh thần của cư dân địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các báo cáo chính thức của Ban Tôn giáo thành phố Hải Phòng năm 2007, báo cáo của Ban Tôn giáo huyện An Dương năm 2008, tài liệu lưu trữ của Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng cùng các thư tịch lịch sử như tác phẩm Dư địa chí.

Phương pháp thu thập dữ liệu thực nghiệm được thực hiện thông qua khảo sát xã hội học với cỡ mẫu 200 phiếu điều tra dành cho quần chúng nhân dân và tín đồ Phật tử tại các xã tiêu biểu, kết hợp phỏng vấn sâu toàn diện 37 vị Tăng Ni đang tu tập tại 16 xã, thị trấn. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo khu vực địa lý và cơ cấu lứa tuổi được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất cho đặc điểm dân cư vùng ven đô. Việc lựa chọn kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic cho phép đánh giá tiến trình du nhập Phật giáo từ thế kỷ 10 thời nhà Trần cho đến thực tiễn năm 2009. Phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp thống kê xã hội học giúp lượng hóa mật độ phân bổ 68 cơ sở thờ tự trên 148.000 dân số, từ đó luận giải bản chất các hiện tượng tâm linh một cách khách quan và khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Phật giáo giữ vị trí áp đảo tuyệt đối trong cơ cấu tín ngưỡng tại địa phương. Toàn huyện hiện có 17.890 tín đồ Phật tử, chiếm 12,1% dân số toàn huyện, cao gấp 11,7 lần so với lượng tín đồ Công giáo với 1.530 người, chiếm khoảng 1% dân số. Cơ sở thờ tự phát triển nhanh với 68 ngôi chùa, đạt bình quân 2.176 người trên một ngôi chùa, tăng 15 cơ sở so với thời điểm năm 1985.

Thứ hai, đội ngũ Tăng Ni mang đặc điểm trẻ hóa rõ nét và mất cân bằng giới tính sâu sắc. Tổng số Tăng Ni toàn huyện năm 2008 là 37 vị, tăng 146,7% so với 15 vị của năm 1990. Độ tuổi trung bình của Tăng Ni là 29 tuổi, dao động từ 11 đến 63 tuổi. Cơ cấu giới tính ghi nhận sự áp đảo của nữ giới với 32 vị Ni, chiếm 86,5%, trong khi chỉ có 5 vị Tăng, chiếm 13,5%.

Thứ ba, các chuẩn mực đạo đức Phật giáo tác động tích cực đến sự ổn định gia đình và cộng đồng làng xã. Việc thực hành Ngũ giới và đề cao chữ Hiếu trong tư tưởng Phật giáo giúp duy trì nền nếp gia phong, giảm thiểu tệ nạn xã hội tại các thôn xóm có đông đảo Phật tử sinh hoạt thuần thuần thành.

Thứ tư, công tác quản lý và trình độ Tăng Ni bộc lộ nhiều khoảng trống nghiêm trọng. Trình độ học vấn của chức sắc còn hạn chế khi có 7 trên tổng số 13 vị Ni theo học Trường Trung cấp Phật học Hải Phòng chỉ có trình độ trung học cơ sở. Tình trạng lợi dụng tôn giáo diễn biến phức tạp với sự xuất hiện của 3 trường hợp mạo danh tu sĩ hoạt động trái phép tại chùa Tiên Sa xã Hồng Thái, chùa Hà Nhuận xã An Hòa và chùa Lương Quy xã Lê Lợi theo Công văn số 1026 của Giáo hội, cùng các vụ tranh chấp đất đai tự viện tại chùa Mục Đồng và chùa Đào Yêu.

Thảo luận kết quả

Sự phân bổ cơ sở thờ tự trên địa bàn huyện bộc lộ sự chênh lệch lớn giữa các địa phương, điều này có thể được minh họa rõ nét qua biểu đồ hình cột so sánh mật độ dân số trên mỗi ngôi chùa. Cụ thể, xã Đại Bản có 11.188 người nhưng chỉ có 2 ngôi chùa, tương ứng tỷ lệ 5.594 người trên một chùa; trong khi xã Quốc Tuấn có 6.700 người nhưng sở hữu tới 5 ngôi chùa, tương ứng 1.340 người trên một chùa. Dữ liệu này phản ánh những vùng kinh tế thuần nông trước đây thường có mật độ chùa dày đặc hơn các khu vực phát triển dịch vụ ven đô.

Bên cạnh đó, việc tổng hợp cơ cấu học vấn của Tăng Ni qua bảng số liệu đối chiếu cho thấy sự thiếu hụt kiến thức Phật học chuyên sâu và vốn Hán Nôm cổ, khiến công tác hoằng pháp chủ yếu dừng lại ở nghi thức cúng bái cầu an, cầu siêu mang tính dân gian thay vì truyền bá giáo lý giải thoát cao sâu. Nguyên nhân bắt nguồn từ truyền thống hòa quyện tam giáo đồng nguyên và tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa lâu đời tại vùng duyên hải Bắc Bộ. So với các quận nội thành Hải Phòng, nơi các ngôi chùa có xu hướng bê tông hóa và trang hoàng rực rỡ, hệ thống tự viện An Dương vẫn bảo tồn được nét cổ kính cùng các di vật quý như cây Thạch Trụ niên hiệu Chính Hòa 1680 - 1705 và chuông đồng niên hiệu Minh Mệnh 1836 tại chùa Tràng Duệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện. Ủy ban nhân dân huyện An Dương cùng Phòng Tôn giáo cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tiến hành rà soát, xử lý dứt điểm 100% các trường hợp cư trú và hành đạo bất hợp pháp, đặc biệt là 3 cơ sở tự viện có hiện tượng mạo danh tu sĩ, đồng thời giải quyết triệt để 2 vụ việc tranh chấp đất đai tại xã Hồng Phong và xã Hồng Thái trong thời hạn 6 tháng.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ chức sắc, tu sĩ Phật giáo. Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng phối hợp với Ban Đại diện Phật giáo huyện An Dương xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức thế học và Phật pháp cho 37 vị Tăng Ni, đặt mục tiêu đến năm 2012 đạt tỷ lệ 100% Tăng Ni trụ trì hoàn thành chương trình Trung cấp Phật học và có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên.

Thứ ba, đổi mới nội dung hoằng pháp và bài trừ các biểu hiện mê tín dị đoan. Các cơ sở tự viện cần tăng tần suất thuyết giảng chính pháp từ 1 lần mỗi năm lên tối thiểu 4 lần mỗi năm, định hướng cho 17.890 tín đồ Phật tử thực hành nếp sống văn minh, giảm thiểu 80% tình trạng đốt vàng mã, cúng dâng sao giải hạn tốn kém trong các dịp lễ hội rằm tháng Giêng và đại lễ Vu Lan.

Thứ tư, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa Phật giáo gắn với phát triển du lịch tâm linh. Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hải Phòng phối hợp với chính quyền địa phương triển khai dự án trùng tu 6 ngôi chùa di tích cấp quốc gia và cấp thành phố gồm Tràng Duệ, Bắc Sơn, Hà Đậu, Đào Yêu, Kinh Giao và Phó La trong lộ trình giai đoạn 2010 - 2015, giữ gìn nguyên vẹn kiến trúc cổ và các bảo vật lịch sử.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước về công tác tôn giáo, dân vận tại Hải Phòng và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, giúp nắm bắt dữ liệu thực chứng về 68 cơ sở tự viện và 17.890 tín đồ để hoạch định chính sách quản lý văn hóa ven đô hiệu quả.

Nhóm các nhà khoa học, giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Triết học, Tôn giáo học, Xã hội học và Văn hóa học, cung cấp hệ thống tư liệu phong phú về sự chuyển biến của Phật giáo nhập thế thời kỳ đổi mới làm nguồn trích dẫn học thuật đáng tin cậy.

Nhóm chức sắc lãnh đạo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp, giúp tham khảo bức tranh thực tế về cơ cấu 32 Ni trên 5 Tăng cùng độ tuổi trung bình 29 của giới tu sĩ, từ đó hoàn thiện chiến lược đào tạo Tăng tài và định hướng sinh hoạt tôn giáo phù hợp.

Nhóm sinh viên, học viên cao học khối ngành khoa học xã hội và nhân văn, sử dụng công trình như một bài mẫu phương pháp luận chuẩn mực về cách kết hợp lý thuyết Mác - Lênin với điều tra điền dã thực tế tại một địa bàn cấp huyện cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

Phật giáo huyện An Dương có những đặc trưng văn hóa tâm linh nổi bật nào? Phật giáo An Dương chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử từ thế kỷ 10 kết hợp chặt chẽ với tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Thành hoàng làng. Địa phương có số lượng tín đồ áp đảo với 17.890 người, chiếm 12,1% dân số, cùng đặc điểm giới tính nổi bật là 32 trong tổng số 37 vị tu sĩ là Ni giới.

Tình hình phân bố cơ sở thờ tự Phật giáo tại huyện An Dương diễn ra như thế nào? Toàn huyện hiện có 68 ngôi chùa phân bố tại 16 xã và thị trấn, đạt mật độ trung bình 2.176 người trên một ngôi chùa. Mật độ phân bố không đồng đều giữa các xã, dao động từ mức 1.340 người trên một chùa tại xã Quốc Tuấn đến 5.594 người trên một chùa tại xã Đại Bản.

Tư tưởng đạo đức Phật giáo tác động thế nào đến đời sống gia đình của người dân địa phương? Giáo lý Ngũ giới và đạo lý hiếu thảo làm nền tảng giúp củng cố mối quan hệ cha mẹ, con cái và vợ chồng theo 5 điều chuẩn mực luân lý. Tinh thần từ bi hỷ xả đã góp phần giảm thiểu các xung đột gia đình và tệ nạn xã hội trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng.

Những hạn chế chủ yếu trong sinh hoạt Phật giáo tại huyện An Dương hiện nay là gì? Hạn chế nổi cộm là chất lượng thuyết giảng giáo lý còn thấp khi 7 trên 13 Ni sinh chỉ có bằng trung học cơ sở, sinh hoạt thiên nặng về cúng bái hình thức. Đáng chú ý là sự xuất hiện của 3 người mạo danh Tăng Ni hành đạo trái phép và các tranh chấp đất đai tại 2 ngôi chùa.

Luận văn đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học chính yếu nào? Tác giả đã kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với các phương pháp logic, phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học. Dữ liệu thực chứng được thu thập thông qua 200 phiếu điều tra thực địa và phỏng vấn sâu 37 vị Tăng Ni tại 16 xã, thị trấn.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất tại huyện An Dương với 68 ngôi chùa và 17.890 tín đồ, giữ vai trò trụ cột trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.
  • Nghiên cứu làm rõ giá trị nhân văn của hệ thống giáo lý Tứ diệu đế, Bát chính đạo và Tứ vô lượng tâm trong việc bồi đắp đạo đức, gắn kết tình làng nghĩa xóm và phát huy truyền thống yêu nước.
  • Công trình chỉ ra những bất cập thực tiễn về sự mất cân bằng giới tính tu sĩ với 32 Ni và 5 Tăng, độ tuổi bình quân trẻ là 29 tuổi cùng những hạn chế về trình độ Phật học và thế học.
  • Đề tài nhận diện thẳng thắn các hiện tượng tiêu cực như mê tín dị đoan, tranh chấp đất tự viện và tình trạng tu sĩ giả mạo nhằm cung cấp căn cứ xử lý dứt điểm cho chính quyền địa phương.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về quản lý hành chính, nâng cao chất lượng Tăng Ni, đổi mới hoằng pháp và bảo tồn 6 ngôi chùa di tích lịch sử tạo tiền đề vững chắc cho công tác tôn giáo giai đoạn 2010 - 2020.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho việc hoạch định chính sách tôn giáo tại vùng ven đô Hải Phòng. Các cơ quan quản lý và các nhà nghiên cứu cần tiếp tục ứng dụng kết quả khảo cứu này vào việc xây dựng môi trường văn hóa tinh thần tiến bộ, lành mạnh trong tương lai.