Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây ngô 1.1 Nguồn gốc và đặc điểm thực vật học của cây ngô Ngô (Zea mays), họ hòa thảo (Gramineae) khác với các loại thuộc loài nay, hoa ngô thuộc hoa đơn tính đồng chu có hoa đực và hoa cái nằm tách biệt trên cùng một cây. - Tộc Maydeae: hoa đực và hoa cái ở những vi trí khác nhau trên cùng một cay, than đặc, có sáp. - Chi Zea: Hạt mọc ở trục bông ở phía bên cây, sau khi chín hạt to và mày nhỏ. - Loài Zea mays: Nhánh mẹ phát triển vòi nhụy (râu) rất dài, số hàng hạt tương đối nhiều, xếp song song trên trục bông.
Chi Zea có một loài duy nhất Zea mays nhưng có rất nhiều giống, hàng ngàn giống được phân chia thành nhiều loài phụ khác nhau dựa vào đặc điểm cấu trúc hạt (Trần Thị Dạ Thảo, 2008). Ngô đã được con người trồng hàng năm nay. Các kết quả khảo cỗ ở Teotihuacan, một thung lũng gần Puebla ở Mexico. Ước tính tuổi của cây ngô cô nhất là khoảng 7000 năm.
Ngô gắn liền với nền văn minh của người Mayan va Aztec và có một vai trò quan trọng trong tín ngưỡng, lễ hội và dinh dưỡng. Các dân tộc Mayan và Azec cho rằng thịt và máu được tạo ra từ ngô (Trần Thị Dạ Thảo, 2009). Theo Trần Thị Dạ Thảo (2009), dựa vào hình thái và thời gian phát sinh rễ ngô có rễ mam và rễ đốt phát triển từ các đốt thấp của thân, mọc vòng quanh các đốt đưới mặt dat bắt đầu lúc ngô được 3 — 4 lá. Thân ngô thường cao từ 2 — 3 m, chiều cao tùy thuộc vào giống và thời gian sinh trưởng, điều kiện ngoại cảnh, thân chính của cây ngô có nguồn gốc từ chồi mầm được bao phủ bởi bao lá mầm nam trong phôi của hạt thường có 8 — 22 long, long mang trái được kéo dài thích hợp dé trái ngô có thé định vị va phát triển.
Lá ngô mọc cách. Căn cứ vào hình thái và vị trí trên thân có thể chia làm ra 4 loại là lá mầm, lá thân, lá ngọn và lá bi. Hoa ngô thuộc loại don tính đồng chu, chùm hoa đực phát sinh ở đầu ngọn, hoa cái phát sinh ở mầm nách. Hạt ngô gồm 5 phan chính: Vỏ hạt, lớp aloron, phôi nội nhũ và chân hạt.
Vỏ hạt là một màng nhẵn bao xung quanh hạt.2 Yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng của cây ngô 1.1 Nhiệt độ Cây ngô có nguồn góc nhiệt đới nên gọi là cây ưa nhiệt, sinh trưởng tốt trong điều kiện >20°C. Nhiệt độ tối thích hợp từ 24 — 30°C; nhiệt độ <13°C cây ngừng phát triển; nhiệt độ >35°C cây sinh trưởng kém. Ngô có bộ giống rất phong phú được chia thành 2 nhóm: Ngô vùng ôn đới chịu rét, nây mầm được ở nhiệt độ thấp; ngô vùng nhiệt đới nay mầm ở nhiệt độ >15°C và sinh trưởng, phát triển tốt ở 20 — 35°C. Nhiệt độ có anh hưởng đến thời gian sinh trưởng của cây ngô, trong cả đời sống và trong từ thời kì cây ngô cần một lượng tích nhiệt nhất định, đủ lượng nhiệt đó cây mới sinh trưởng và phát triển bình thường.
Giai đoạn chín: Giai đoạn này cây ngô cần ấm 6 và nhiều nắng, từ trổ cờ đến chín sữa, ngô cần nhiệt độ cao đến 24 — 26°C (Ngô Hữu Tình, 2009).2 Nước Nước có vài trò rất quan trọng đến quá trình sinh trường, phát triển và năng suất ngô. Nước là một trong như yếu tố môi trường quyết định đến năng suất ngô đến nhiều vùng trồng ngô trên thế giới. Những vùng chủ động được nước tới Năng suất cao, còn những vùng chi phụ thuộc vào nước mưa > Là vùng khó khan, vùng cao, năng suất thấp. Các nhà khoa học đã tính ra rằng một cây ngô có thể thoát hơi nước từ 2 — 4 kg/ngày.
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển 1.000m2 ngô bốc thoát khoảng 1800 tấn nước tương đương khoảng 175mm (Cao Đắc Điểm, 1998).3 Ánh sáng Ánh sáng ảnh hưởng đến cây trồng và cây ngô: Độ dai ngày và chất lượng ánh sáng (cường độ ánh sáng, bước sóng và độ che khuất ánh sáng). Ngô quang hợp theo chu kì C4 nên rất ưa cường độ ánh sáng mạnh, những tia nắng có bước sóng dài (sáng sớm, chiều tối) kiềm hãm sự phát triển của cây, những tia nắng có bước sóng ngắn (giữa trưa) lại thúc đây sự phát triển của cây, khả năng sử dụng ánh sáng của ngô rất cao tốc độ quang hợp trung bình của cây ngô đạt 35 - 39 mg/COz/dm?/h. Ngô trồng trong điều kiện ánh sáng mạnh, số giờ chiếu sáng trong ngày dai > Năng suất cao > Đây cũng là đặc điểm hạn chế của cây ngô ở Việt Nam. Ngô là loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, thuộc nhóm cây ngày ngắn.
Thành phần quang phố ánh sáng khác nhau không những chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của bông cờ và ngô mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của thân, độ dài đốt cũng như cấu trúc và kích thước của lá.4 Đất đai Ngô có thể trồng được trên đất có độ chua trung bình nhưng pH thích hợp nhất là 6,5 - 7. Tuy nhiên, nó có thé sống được ở pH= 5 - 8 (Tran Thi Da Thảo, 2009).2 Giá trị dinh dưỡng của cây ngô làm thức ăn chan nuôi gia súc Bang 1.1 Thanh phần dinh dưỡng trong thân, lá, lõi ngô (% khối lượng chất khô) Thành phần Cây xanh Cây già Lõi trái dinh dưỡng không trái không trái Nước 77,30 13,50 10,17 Protit 1,30 4,36 2,40 Lipit 0,40 0,74 0,50 Duong, bột 139 39,25 54,50 Xenlulô 6,00 33,65 30,10 Chất khoáng 1,40 6,70 1,40 (Đường Hồng Dat, 2004) Cây ngô có thé dùng làm thức ăn gia súc dưới dạng hat hay dang thức ăn thô xanh (thân lá). Hạt ngô sau khi xay min được dùng nuôi ga vit, nấu cháo cho lợn, nuôi tôm. Theo Đường Hồng Dật (2004), trong thân, lá và lõi ngô có chứa hàm lượng các chất đường, bột tương đối cao nhưng hàm lượng đạm thì thấp đạt 60 - 70% nhu cầu đạm của một đơn vị thức ăn tiêu chuẩn (Bang 1.
Ngô là loại cây lương thực có tỷ lệ tinh bột, protein, lipid khá cao trong hạt. Tuy nhiên, protein trong ngô thường thiếu các acid amin thiết yếu nên làm giảm giá trị dinh dưỡng của hạt. Việc tìm ra các gen lặn opaque-2 và floury-2 làm tăng giá trị dinh dưỡng của ngô nhờ tăng lysine và tryptophan của hạt lên 1,5 đến 1,7 lần. Trong chăn nuôi nếu sử dụng opaque-2 người ta ít sử dụng thức ăn giàu đạm thực vật và động vật (Dương Minh, 1999).
Cây ngô thu hoạch ở mỗi giai đoạn khác nhau có giá trị dinh dưỡng khác nhau (Bảng 1.2 Giá tri dinh dưỡng toàn than cây ngô trong các giai đoạn khác nhau Đặc điêm mâu Chat Protein Xo Tro Lipid Dan xuất kho thô thô không đạm Tươi, 8 tuần (Israel) 15,7 8,9 31,2 10,2 1,9 47,8 Tươi, 10 tuần, (Israel) 21,9 10,9 31,5 87 14 484 Tươi, giữa ra hoa (Puerto Rico) 23,8 9,6 30,9 6,0 4,3 49,3 Tuoi, giai doan stra (Tanzania) 17,0 6,8 28,1 7,4 0,9 54,8 Tuoi, ca cay, chin stra 16,0 11,3 29,4 8,1 19 49,3 (Malaysia) Tuoi, chi than, chin stra 120 Ted 462 85 0,8 36,8 (Malaysia) Thân khô (Nam Phi) - 6,3 36,0 7,4 1,3 50,3 U Silo, chin sữa (Tanzania) - 6,5 31,9 5,0 3,3 53,3 (FAO, 1993) Qua Bảng 1.2 cho thấy cây ngô thu hoạch cả cây ở giai đoạn chín sữa (Malaysia) và thu hoạch tươi 10 tuần (Israel) có giá trị dinh dung cao.3 Thành phần dinh dưỡng của cây ngô tươi và cây ngô ủ chua so với cỏ voi ; Co voi 60 ngay Chi tiéu Don vi tinh ; Cây ngôtươi Cay ngô ủ chua tuôi (mùa khô) Vật chất khô % 20,20 15,89 + 0,08 20,78+ 0,05 Protein % 1,76 199-4001 1,78 + 0,02 Lipid % 0,51 0,22 + 0,07 0,39 + 0,014 Khoáng tổng số % 1,58 0,77 + 0,014 0,92. + 0,017 Xo tong số % 6,93 0,55 + 0,05 6,21 + 0,02 (Nguyễn Xuân Trach, 2008) Khi so sánh thành phần dinh dưỡng của cây ngô ủ chua với cỏ voi 60 ngày tuổi cho thấy hai loại thức ăn này có giá trị dinh dưỡng tương đương nhau, vì vậy có thé sử dụng cây ngô dé thay thế cho cỏ trong điều kiện thiếu thức ăn.3 Tình hình sản xuất cây ngô phục vụ thức ăn chăn nuôi gia súc trong nước và trên thế giới 1.1 Sản xuất cây ngô phục vụ thức ăn chăn nuôi gia súc trên thế giới Ngô sử dụng với nhiều mục đích khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người như sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu cho ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến thực phẩm. Ở các nước phát triển phan lớn sản lượng ngô làm thức ăn cho chăn nuôi. Theo số liệu thống kê của CIMMYT giai đoạn 1997 — 1999 thế giới sử dụng ngô làm thức ăn chăn nuôi là 66%, khoảng 400 triệu tắn/năm; các nước phát triển có tỷ lệ dùng ngô làm thức ăn chăn nuôi thường cao trên 70% như: Mỹ 76%, Bồ Đào Nha 91%, Ý 93%, Croatia 95%, Latvia 97%, Trung Quốc 76%, Malaysia 91% và Thái Lan 96% (trích theo Ngô Hữu Tình, 2003).
Theo báo cáo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực quốc tế (IFPRI, 2004), ở các nước phát triên sử dụng 5% sản lượng ngô làm lương thực, sản lượng ngô còn lại được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi; còn các nước đang phát triển sử dụng đến 22% sản lượng ngô làm lương thực. Ngô ủ chua có vai trò quan trọng đối với ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc ở New Zealand, diện tích trồng ngô thu sinh khối trong năm 2008 là 80.000 ha và diện tích trồng ngô lấy hạt là 20. Sản lượng ngô thu sinh khối năm 2012 của New Zealand đạt 923.000 tan, tương ứng năng suất chất khô bình quân là 18,7 tan/ha. Ở Mỹ hau hết các vùng đều trồng ngô thu sinh khối làm thức ăn cho gia súc với điện tích và sản lượng rất lớn.
Đặc biệt vùng phía Đông miền Trung với diện tích 575.000 ha cho sản lượng đến 23,718 triệu tan trong năm 2012 và đến năm 2013 về năng suất và sản lượng đều tăng hơn so với năm 2012 với diện tích 662.500 ha và sản lượng 29,812 triệu tấn. Vùng trồng ngô thu sinh khối có diện tích nhỏ nhất (vùng Tây Nam diện tích 92.500 ha năm 2012) cũng đã hơn diện tích cả nước New Zealand (diện tích 24.