Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tổng quan về hoa cúc lá nhám 1.1 Phân loại và nguồn gốc Theo Nguyễn Xuân Linh (2002), ở Việt Nam cúc lá nhám hiện có 5 loài và trên thé giới có 200 loài. Chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Ban va Thái Lan. Sử dụng làm hoa nén va cây cảnh. Tên khoa học: Zinnia elegans Lớp 2 lá mầm: Dicotyledones Lớp: Asterydae Bộ: Asterales Họ: Asteraceae Chi: Zinnia sp.
Theo Đặng Văn Đông va Dinh Thế Lộc (2003), cúc lá nhám có nguồn gốc từ Mexico nhưng được trồng làm cảnh ở nhiều nơi và được nhập tự nhiên ở một số nơi, bao gồm các địa điểm rải rác ở Nam va Trung Mỹ, Tay Au, Hoa Ky, Úc và Y. Cúc lá nhám gồm có 20 loài, từ bông hoa có kích thước thu nhỏ đến những những bông hoa không lồ có kích thước như một quả bóng tennis, có nguồn gốc Trung châu Mỹ, cụ thé là Mexico và được phân bé ở các nước Nam Mỹ như Braxin, Chile, Mexico, Peru (Lê Kim Biên, 2007).2 Đặc điểm thực vật học 1.1 Rễ Theo Pham Văn Dué (2005), rễ cây hoa cúc thuộc loại rễ chùm, ăn sâu 5 — 10 cm, rễ tuy ăn sâu ít nhưng phát triển theo chiều ngang nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh do có nhiều rễ phụ và lông hút, đồng thời cây thích hợp với đất thoáng khí và giàu mùn. Những rễ này không phát sinh từ mầm rễ mà từ những rễ mọc ở mắt của thân cây, còn gọi là mắt ở những phần sát mặt đất. 3 Chức năng của rễ: Giữ cho cây dính vào đất và giúp cho cây ở vị tri thắng đứng.
Bộ rễ có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển của thân, cành, lá trên mặt đất của cây, bởi vì chúng hút các chất dinh dưỡng (nước, muối khoáng) trong đất. Chuyén các chất đó lên thân lá dé tạo ra các chất dinh đưỡng hữu cơ cho cây sinh trưởng và phát triển.2 Thân Theo Nguyễn Huy Trí (2000), cúc lá nhám thuộc cây thân thảo sống hàng năm, lá mọc đối không có cuống, gốc lá ôm lay cảnh. Cành mọc đối xứng từ hai nách lá hai bên đốt thân, có nhiều cấp cành. Tuy nhiên đối với giống cúc lá nhám nhập nội thì thân đứng, thân vả cành to, mập, cao từ 20 — 40 cm.
Chức năng của thân: Là khâu nối giữ bộ rễ của cây với cành và lá, thực chất nó là con đường vận chuyền chất qua lại giữa bộ rễ và 1a.3 Lá Lá mọc đối xứng, không có cuống, phiến lá hình bầu dục, chóp nhọn, màu lục tươi, viền lá nguyên, cả hai mặt phủ lông (Lê Kim Biên, 2007). Theo Andrew (1960) gân lá có dang hình lưới, gân chính nỗi rõ và mau trang. Từ mỗi nách thường phát sinh một mầm nhánh, phiến lá to hay nhỏ tùy thuộc vào đặc điểm của từng giống và chế độ chăm sóc. Chức năng của lá: Là cơ quan chuyên hóa của dinh dưỡng, thực hiện sự quang hợp tạo ra các vật chất hữu cơ nuôi cây (Nguyễn Huy Trí, 2000).4 Hoa Theo Nguyễn Quang Thạch và Đặng Văn Đông (2002), khi nghiên cứu về hình dạng hoa cúc đã cho rang cây họ cúc (Asteracea) rất đặc trưng bởi có cụm hoa đầu trạng.
Cụm hoa đầu trạng rất điển hình là trục chính của cum hoa phát triển rộng ra thành hình đĩa phẳng hoặc lôi, trên đó có các hoa không cuống sắp xếp xit nhau, phía ngoài cum hoa có các lá bắc xếp thành vòng, cả cụm hoa có dang như một bông hoa. Hoa mọc trên đỉnh sinh trưởng của thân chính và cành chính, có rất nhiều màu sắc khác nhau: Trắng, đỏ, vàng, cam, hồng nhạt, hồng đậm, tím, màu hoa cà. Đường kính hoa từ 1,5 — 10 em (Phạm Văn Duệ, 2005). Hoa có nhiều cánh hoa nhỏ hợp lại trên một cuống hoa, mỗi cánh thực chất là một bông hoa.
Lá bắc xếp lợp thành 3 hàng, hình 4 bau dục thuôn dai 1 — 1,3 cm, đỉnh của lá bắt tù và có viền màu nâu đen. Ở viền cum hoa là 2 — 3 hang hoa cái, có trang dang lưỡi nhỏ, phiến lưỡi hình bau dục. Ở giữa là nhiều hoa lưỡng tính, tràng hình ống dai 1 cm, màu vàng da cam, đầu có 5 thùy ngắn, phía ngoài thùy phủ lông tơ. Bao phan có đỉnh ở gần ngọn (Lê Kim Biên, 2007).
Khi phấn nhị đực chín, bao phấn nở tung phấn ra ngoài, nhưng lúc nhụy còn non chưa có khả năng tiếp nhận hạt phan. Hoa cúc tuy là lưỡng tính nhưng thường không thé tự thụ phan, nếu muốn lay hạt giống thì phải tiễn hành thụ phan nhân tạo. Dựa vào kiểu hoa có thé chia thành 2 loại là cánh đơn (hoa chỉ một lớp cánh) va cánh kép (hoa có nhiều lớp cánh). Cả hai loại này khi gieo hạt đều phân ly ra nhiều màu hoa đẹp (Pham Văn Dué, 2005).
Hiện nay, cúc lá nhám còn được phân loại theo thêm một nhóm thuộc cánh nửa kép.5 Quả Quả của cây hoa cúc là loại quả bề khô, hình tru hơi det, chỉ chứa một hat, hạt có phôi thang và không có nội nhũ; quả có hai rang ở đầu có màu từ xám đến đen (Phạm Hoàng Hộ, 2023). Hạt cục lá nhám nhỏ Piooo hạt = 7,4 gam (Lê Kim Biên, 2007). Chức năng của hoa và quả: Phương thức sinh sản bảo tồn của thực vật và cũng chính là cơ sở cho người trồng thu hái hạt giống đề gieo trồng nhân giống sau này (Nguyễn Huy Trí, 2000).3 Nhu cầu sinh thái và dinh dưỡng cay cúc lá nhám 1.1 Ánh sáng Cây cúc lá nhám là cây ưa ngày ngắn. Thời kỳ đầu các mầm non mới ra rễ nên cây cần ít ánh sáng, có khi không cần, bởi vì cây còn sử dụng các chất dinh dưỡng dự trữ.
Sau khi tiêu hao hết các chất dinh đưỡng dự trữ cây cần ánh sáng dé chuyền sang giai đoạn sống tự dưỡng, cây cúc lá nhám khi đã lớn chịu được ánh sáng trực xạ (Phạm Văn Duệ, 2005). Thời gian chiếu sang dai, cây sinh trưởng mạnh, cây cao, hoa to, đẹp. Bởi vay nên rất thích hợp với thời tiết Thu Đông và Đông Xuân (Nguyễn Xuân Lĩnh, 2002). Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003), ngày dài có ảnh hưởng đến sự ra hoa của cúc lá nhám, thời gian chiếu sáng cho thời kỳ sinh trưởng thân lá tốt nhất là 10 5 giờ với nhiệt độ thích hợp là 18°C.
Thời gian chiếu sáng dài, hoa sẽ kéo đài thời gian sinh trưởng, thân lá to, hoa ra muộn và chất lượng hoa tăng.2 Nhiệt độ Về yêu tố nhiệt độ của cúc lá nhám cũng như các giống hoa cúc nói chung có nguồn sốc ôn đới, nên ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là từ 15 — 20°C, cây có thể chịu đựng ở nhiệt độ từ 10 — 35°C, nhưng nhiệt độ trên 35°C và dưới 10°C sẽ làm cho cúc lá nhám sinh trưởng phát triển kém. Ở thời kỳ cây con yêu cầu nhiệt độ cao hơn. Đặc biệt trong thời kỳ ra hoa, đảm bảo cho hoa ở nhiệt độ can thiết thì hoa sẽ to và đẹp hơn. Ban ngày cây cần nhiệt độ cao hơn dé quang hợp, còn ban đêm nếu nhiệt độ cao sẽ thúc đây quá trình hô hap làm tiêu hao chat dự trữ trong cây (Nguyễn Xuân Linh, 2002).
Theo Phạm Văn Dué (2005), cây Zinnia sp. sinh trưởng phát triển trong phạm vi nhiệt độ khá rộng. Bắt đầu sinh trưởng từ 16°C, thích hợp nhất là 20 °C — 22 °C, chịu nhiệt độ cao là 40 °C. Nhiệt độ mùa hè ở miền Bắc rất thích hợp cho cây sinh trưởng.3 Âm độ Độ am dat từ 60 — 70% va độ am không khí 55 — 65% là rất thuận lợi cho cây hoa sinh trưởng.
Nếu độ âm trên 80% cây sinh trưởng mạnh nhưng lá dé bị mắc một số bệnh nam. Đặc biệt vào thời kỳ thu hoạch hoa cúc lá nhám cần tiết trời trong xanh và khô ráo, nếu độ 4m không khí quá cao sẽ làm cho hoa bị thối do nước đọng lại trong các tuyến mật của hoa, hoặc cây chứa nhiều nước dé bị đồ non, việc thu hoạch gặp nhiều khó khăn và hoa lá thường bị dập nát (Nguyễn Xuân Linh, 2002). Âm độ đất thích hợp 75 — 80%. Am độ không khí là 60 — 70%.
Nếu âm độ không khí lớn hon 80% thì khả năng sâu bệnh nhiều. Nếu 4m độ không khí nhỏ hơn 60% thì lá cây sẽ rũ xuống (Phạm Văn Duệ, 2005). Vào thời kì thu hoạch cần thời tiết trong xanh và khô ráo, nếu âm độ không khí cao hoa bị thối do nước đọng lai trong tuyến mật của hoa hoặc cây chứa nhiều nước dé bị dé.4 Dinh dưỡng Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007) thì chế độ dinh dưỡng cho cây hoa cúc: Phải đảm bảo đầy đủ và cân đối. Nếu thiếu phân thì cây sẽ còi cọc và hoa nhỏ, dé bị sâu bệnh phá hoại.
Nhưng nếu phân bón bị thừa thì thân cây dé bị đồ, khả năng chống chịu kém. Trong điều kiện sản xuất thì việc điều chỉnh dinh dưỡng là yếu tố quan trọng dé nâng cao năng suất, chất lượng và sức chống chịu của cây trồng. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng: Mức tăng năng suất cây trồng có mối quan hệ rất chặt chẽ với số lượng, chủng loại và cách sử dụng các loại phân bón trong canh tác. Các loại phân mà cây cần bao gồm phân vô cơ như dam, lân, kali, phân hữu cơ như phân bắc, phân chuồng, phân vi sinh và các loại phân vi lượng như Cu, Fe, Zn, Mn.
Phân đạm (N): Quyết định đến sự sinh trưởng của cây, tham gia cấu tạo chất diệp lục của lá là thành phần chính cho sự quang hợp. Đối với cây hoa cúc, đạm đóng vai trò tạo nên nguyên sinh chất của tế bào, tham gia cấu tạo điệp lục lá, thành phần chính cho sự quang hợp (Nguyễn Quang Thạch và Đặng Văn Đông, 2002). Vai trò quan trọng nhất của đạm trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển là liên quan đến màu sắc và kích thước của hoa. Thiếu đạm cây can cỗi, lá úa vàng, hoa nhỏ và xấu, nhưng nếu bón quá nhiều đạm cho hoa thì sẽ phát triển thân cành mạnh có thé không ra hoa.
Cây cần đạm nhất vào thời kỳ chuẩn bị phân cành và thời kỳ phân hóa mầm hoa. Phân lân (PzOs): Giúp bộ rễ phát triển mạnh, cây con khỏe, tỷ lệ sống cao, thân cứng, hoa bền màu sắc hoa đẹp, nhanh ra hoa, giúp cho cây hút đạm nhiều hơn và tăng khả năng chống rét cho cây.