Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về hoa cúc lá nhám 1.1 Nguồn gốc phân loại Theo Nguyễn Thị Kim Huyên (2012), hoa cúc lá nhám thuộc lớp 2 lá mầm Dicotyledoneae, phân lớp cúc - Asterydae, thuộc bộ cúc — Asterales, họ cúc - Asteraceae và thuộc chỉ — Zinnia sp. Ở Việt Nam có 5 loài và trên thế giới có 200 loài. Các loại này có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan. Cúc lá nhám được phân bố làm hoa nền và cây cảnh là chủ yếu.2 Đặc điểm thực vật học 1.1 Rễ Theo Nguyễn Xuân Linh (1998), rễ hoa cúc thuộc loại rễ chùm, rễ cây ít ăn sâu mà phát trién theo bề ngang.
Khối lượng của toàn bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút, nên khả năng hút nước và đinh đưỡng mạnh. Có những phần rễ mọc ở thân cây còn được gọi là mắt, ở những phần trên mặt đất.2 Thân Thân cúc lá nhám thuộc loại thân thảo. Thân mọc đứng cao từ 10 cm — 100 cm, có nhiều đốt, khả năng phân nhánh mạnh, có nhiều cấp cành, thân phủ lông mềm. Cành mọc đối xứng từ hai nách lá hai bên đốt thân (Phạm Văn Duệ, 2005) Cây càng lớn thân càng cứng, cây cao hay thấp còn tùy thuộc vào giéng.
Dựa vào chiều cao thân chia làm ba kích cỡ: Thân cao (75 — 90 em), trung bình (45 — 60 em) và thân lùn (15 — 45 cm). Giống cúc lá nhám làm thí nghiệm thuộc nhóm các thân lùn (Phạm Văn Duệ, 2005).3 Lá Đối với giống cúc lá nhám, lá mọc đối không có cuống, hình lưỡi mác, phía dưới có nhiều lông tơ bao phủ, phía trên mặt lá ít lông hoặc không có lông sờ vào nhám. Từ mỗi nách lá thường phát sinh một mầm nhánh. Phiến lá to hay nhỏ phụ thuộc vào giống và chế độ chăm sóc (Nguyễn Thị Kim Huyên, 2012).4 Hoa Hoa cúc lá nhám mọc trên đỉnh sinh trưởng của thân chính và cành nhánh, hoa có rất nhiều màu sắc khác nhau: trắng, vàng, hồng đậm, hồng nhạt, đỏ, đỏ tím, màu hoa cà.
Đường kính từ 1,5 — 10 em Hoa kép, hoa cúc chính là gồm nhiều hoa nhỏ hop lại trên một cuống hoa, hình thành hoa tự đầu trạng ma mỗi cánh thực chất là một bông hoa. Tràng hoa dính vào bầu như hình cái ống, trên ống đó phát sinh cánh hoa, những cánh nằm ở phía ngoài thưởng có màu sắc đạm hơn xếp thành nhiều tầng, xếp chặt hay lỏng tùy theo từng giống. Hoa có 4 đến 5 nhị đực dính vào nhau bao xung quanh vòi nhụy. Vòi nhụy mảnh, hình chỉ chẻ đôi.
Khi phấn nhị dực chín, bao phấn nở tung phấn ra ngoài, nhưng lúc nhụy còn non chưa có khả năng tiếp nhận hạt phan, cho nên hoa cúc tuy lưỡng tính mà thường bị biệt giao, vì vậy muốn lấy hạt giống phải thụ phan nhân tao (Nguyễn Thị Kim Huyên, 2012).5 Quả Theo Phạm Hoàng Hộ (2003), cây hoa cúc có quả dạng bề khô, hình trụ hơi dẹt, chỉ chứa một hạt, hạt có phôi thắng và không có nội nhũ, quả có hai răng ở đầu có màu từ xám đến đen. Nhìn chung, giống hoa cúc lá nhám thực hiện trong bố tri thí nghiệm thuộc nhóm thân thấp từ khoảng 20 — 25 cm tùy thuộc vào cách chăm sóc, chế độ dinh dưỡng, cau tạo cánh hoa là cánh kép.3 Điều kiện ngoại cảnh Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự sinh trưởng.phát triển, nở hoa và chất lượng của hoa cúc lá nhám. Hoa cúc lá nhám có nguồn gốc ôn đới nên sinh trưởng và phát triển trong điều kiện khí hậu mát mẻ (Myster và Moe, 1995). Theo Huh và cs (2005), cúc lá nhám phù hợp phát triển tốt ở nhiệt độ từ 15°C — 20°C, cây phát triển trong khoảng nhiệt độ từ 10°C — 35°C.
Khi nhiệt độ xuống dưới 10°C hoặc cao hơn 35°C cây sẽ giảm sức sống, giảm khả năng cho hoa. Khi nhiệt độ dưới 5°C hoặc trên 40°C cây sẽ ngừng hoạt động, héo và chết. Về ánh sáng, cúc lá nhám là một loại hoa ưa sáng, ngắn ngày. Quang chu kì có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình ra hoa của cây.
Khi thời gian chiếu sáng bằng hoặc ngắn 4 hơn độ dài chiếu sáng tới hạn thì hình thành mầm hoa và nụ. Khi thời gian chiếu sáng dài hơn độ dài chiếu sáng tới hạn thì không thể hình thành mầm hoa. Hầu hết vào thời kỳ sinh trưởng đinh dưỡng cần ánh sáng ngày dài trên 13 giờ, trong giai đoạn trổ hoa 10 — 11 giờ và nhiệt độ không khí thấp trên dưới 20°C. Thời gian thích hợp là vụ thu đông và đông xuân.
Cường độ anh sáng thích hợp cho cúc lá nhám từ 1.000 lux, ánh sáng tối thích từ 2. Trong quá trình phát triển cơ quan sinh sản nếu cường độ ảnh sáng cao trên 3.000 lux cây sẽ ra hoa sớm, nêu cường độ ánh sáng thấp dưới 1.000 lux thi quá trình ra nụ, nở hoa sẽ chậm lại (Đoàn Thị Hạnh, 2013). Về độ am, cúc là cây trồng cạn, không chịu được tng đồng thời cũng là cây có sinh khối lớn, bộ lá to, tiêu hao nước nhiều do vậy cũng chịu hạn kém. Độ am đất phù hợp dé phát triển từ 60% - 70%, độ âm không khi từ 55% - 65% thuận lợi cho cây các phát triển tốt nhất.
Ở độ âm quá cao, cây sẽ rat dé nam bệnh vì vay han chế tưới nước khi trời tối. Vào thời kì ra hoa, âm độ quá cao có thể làm nước tích tụ trong hoa, gây thổi nụ, gây khó khăn cho quá trình thu hoạch (Huh và cs, 2005). Theo Đặng Văn Đông và Định Thế Lộc (2003), trong quá trình sinh trưởng, tùy thuộc theo thời tiết mà luôn cung cấp đủ nước cho các bằng biện pháp bơm nước cho cây.4 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cúc lá nhám Theo Trần Văn Trung (2022), hoa cúc lá nhám là cây một năm, sinh trưởng phát triển mạnh, dễ chăm sóc và cho hoa liên tục. Có thể chia các giai đoạn sinh trưởng của cúc lá nhám ra thành các giai đoạn: Giai đoạn nay mam: U hat trong nước ấm từ 6 — 12 gid, dé kich thich hat nhanh nay mam, pH phù hợp cho giai đoạn này là 5,5 — 6,2.
Sau nay mam, độ âm vừa phải sé giúp cây phát triển tốt, nêu âm độ quá cao cây dé bị nắm bệnh tan công. Ngược lại, nếu am độ thấp cây phát triển phát triển chậm. Dé trong bóng ram. Nhiệt độ cần thiết từ 21 - 24°C và EC < 0,5, nếu lớn hơn sẽ dễ làm chết rễ.
Giai đoạn hình thành lá mầm: Sau khi ngâm 3 — 5 ngày sau cúc lá nhám bắt đầu nảy mầm. Ở giai đoạn này, cây bắt đầu cần ánh sáng. Tuy nhiên, cần che sáng 50% do cây nhỏ chưa thích nghi với ánh sáng mạnh. Ở giai đoạn này chưa nên bón phân Giai đoạn hình thành lá thực: Từ 6 — 8 ngày sau nảy mam, cây bắt đầu hình thành từ 2 — 3 cặp lá thực.
Nên che sáng 75% cho cây thích nghi rồi mới tiến hành sang chậu cho cây. Từ khay ươm ra chậu có kích cỡ to hon để giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn. Có thể ngắt đọt để tạo tán cho. Sâu bệnh hại cũng phát triển mạnh ở giai đoạn này.
Giai đoạn ra nụ hoa. Sau trồng từ 25 - 32 ngày, cây bắt đầu cho những nụ ở thân chính, sau đó cho các nụ ở cảnh phụ. Ở giai đoạn này nên bón phân Kali dé kích thích ra hoa. Bón phân hợp lý sẽ giúp hoa bền màu.2 Sơ lược về phân bón lá Phân bón lá là một loại phân bón cung cấp và bổ sung các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng ở dang dễ hap thu, đặc biệt là các nguyên tố vi lượng rat cần thiết cho cây như mangan (Mn), kẽm (Zn), đồng (Cu), silic (Si).
Dùng phân bón qua lá sẽ mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng, bởi nó không gây ảnh hưởng xấu qua đất, nước và không khí, không tồn dư các chất độc hại cho sức khỏe con người trong sản phẩm thu hoạch, không phát sinh độc tố gây ô nhiễm môi trường, khi sử dụng không cần bảo hộ phòng độc Trần Văn Trung (2022). Trên thế giới phân bón lá được sử dụng từ rất lâu. Những năm gần đây các nước Mỹ, Nhật, Anh, Uc, Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan đã sản xuất và sử dụng nhiều loại phân bón lá kết hợp nhiều thành phần khác nhau làm tăng năng suất và phẩm chất nông sản. Không gây độc hại cho người và không ô nhiễm môi trường.
Nhiều loại phân bón lá của nước ngoài đã được khảo nghiệm và được phép sử dụng ở Việt Nam. Ở nước ta trong những năm của thập kỉ 70, 80 phân bón lá vi lượng đã được sử dụng có hiệu quả trong các thí nghiệm diện hẹp và khi ứng dụng đại trả thì chưa có hiệu quả. Trong thập niên 90, khi áp dụng công nghệ chất bám dính, chất khuếch tán, chất kích thích vào việc chế tạo phân bón lá thì được hiệu quả cao hơn, được nông dân áp dụng rộng rãi. Theo Đường Hồng Dat (2003), cho rằng bón phân qua lá phát huy hiệu lực nhanh, tỉ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt các mức cao, 90 — 95%, trong khi sử dung qua đất cây chỉ sử dụng 40 — 50%.
Tổng diện tích bề mặt lá tiếp xúc với phân bón thường cao hơn 8 — 10 lần diện tích tán cây che phủ, các chất dinh dưỡng được vận chuyền tự do theo chiều từ trên xuống dưới với vận tốc 30cm/h, do đó năng lực hap thu dinh dưỡng từ lá cũng cao gấp 8 — 10 lần so với khả năng hấp thụ từ rễ. Cây trồng ngoài bộ rễ có thê hấp thu dinh dưỡng qua thân, bộ lá và các cơ quan khác trên mặt đất, ké cả vỏ thân cũng có thé hút đinh dưỡng một cách trực tiếp qua bề mặt. Lá cây là một bộ phận quan trọng của cây trồng, chúng làm nhiệm vụ quan trọng của cây trồng, chúng làm nhiệm vụ quang hợp va hút chất dinh dưỡng nuôi cây Lá được quan sát dưới kính hién vi cho thấy trên mặt lá có vô vàn lỗ hồng, được gọi là lỗ khí không. Lỗ khí không có kích thước trung bình 100 pm (dài 7 — 10 pm) số lượng khá lớn có thể chiếm tới 1% diện tích lá.
Lỗ khi không phân bó ca hai mặt lá tùy theo loại cây. Từ khí không, không khí, nước và dinh dưỡng thấm qua. Tổng diện tích bề mặt lá so với tán lá cây hay vùng rễ chênh lệch nhau rất lớn.