Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu về cây kim tiền thảo 1.1 Nguồn gốc và phân loại thực vật Cây kim tiền thảo có tên khoa học là Desmodium styracifolium (Osbeck) Merr và có tên đồng nghĩa là Desmodium retroflexum DC., tên tiếng Anh: Cat’s foot, maiden- hair, ground ivy, tên tiếng Pháp: Herbe de St-Jean, couronne de terre, lierreterrestre, rondette. Thuộc giới Plantae, ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, bộ Fabales, họ Fabaceae (họ đậu), chi Desmodium, loài D. Theo Kiều Tan Dat (2012), cây kim tiền thảo hay còn có những tên gọi khác như là Đồng Tiền Lông, Mắt Trâu, Day Sâm Lông (Quảng Nam — Đà Nẵng), Vay Rồng, Bươm Bướm (Quảng Ninh), Bạch Nhĩ Thảo, Bản Trì Liên, Biến Địa Hương, Biến Địa Kim Tiền, Cửu Lý Hương, Nhũ Hương Đẳng, Phật Nhĩ Thảo, Thiên Niên Lãnh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điền), Đại Kim Tiền Thảo, Giang Tô Kim Tiền Thao, Quá Lộ Hoàng, Quảng Kim Tiền Thảo, Tứ Xuyên Đại Kim Tiền Thảo (Trung Dược Học). Đây là một loại được liệu mọc nhiều ở Đông Nam An Độ, Trung Quốc, Thai Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Nhật Bản.
Phân nhóm kim tiền thảo gồm có: Đại Kim tiền thảo Tứ Xuyên (thuộc họ Anh thảo), Tiểu Kim tiền thảo Tứ Xuyên (thuộc họ Toản hoa), kim tiền thảo Quảng Đông (thuộc họ Đậu), kim tiền thảo Giang Tây (thuộc ho Hoa tán), kim tiền thảo Giang Tô (thuộc họ Hoa Mô!) (được trích dẫn bởi Nguyễn Văn linh, 2022). Cây kim tiền thảo phân bồ rộng rãi ở vùng đất cao tốt nhất là độ cao 600 mét so với mực nước bién, thích hợp điều kiện nhiệt độ nóng 4m hoặc âm mát, đất ít chua, có thành phần cơ giới trung bình, âm và thoát nước thường gặp ở những chỗ sáng, trên đất 3 cát pha, vùng trung du Hà Tây, Lạng Sơn, Ninh Bình, Hải Phòng, các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Kim tiền thảo còn phát hiện thấy ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Đắk Lắk. Cây kim tiền thảo được thu hái cây vào mùa hè thu, có thể dùng tươi hay phơi khô (Trung tâm phát triển kinh tế nông thôn, 2020).
Kim tiền thảo là cây ưa sáng, sống lưu niên, tái sinh hạt, chồi gốc, chồi thân, chồi cành đều khỏe. Với các đặc điểm hình thái và sinh thái của cây kim tiền thảo không có đòi hỏi khắt khe về điều kiện khí hậu, rất phù hợp với các điều kiện đất sườn đồi (Trung tâm phát triển kinh tế nông thôn, 2020).2 Đặc tính thực vật học Theo Trương Thị Dep (2007) cây kim tiền thảo có đặc điểm sau: Cây kim tiền thảo là cây thân thảo sống lưu niên, tái sinh khỏe, mọc bò, thân hình trụ, màu xanh hơi vàng, phủ đầy lông mịn màu vàng hoe. Rễ gốc và rễ thân phát triển mạnh và đều, có nhiêu not sân mau nâu hoi trăng, có chứa vi khuân cô định đạm. Rễ: Cây có nhiều rễ phụ mọc ở mặt dưới của cây tập trung ở đốt và mắt lá.
Quá trình phát triển của rễ chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ thứ nhất, rễ cái và rễ phụ phát triển mạnh kéo dai ra và sinh nhiều rễ con, thời kỳ này kéo dai 30 - 40 ngày sau giâm. Thời kỳ thứ hai, bộ rễ phát triển chậm dan, rễ con không phát triển thêm, thậm chí một số rễ con rụng di. Thân: La loài thân thảo mọc bò, cây có nhiều đốt, các đốt cách nhau 2 — 3 cm, đường kính 0,1 — 0,3 em, tiết điện thân hình tròn. Lá: Lá kép mọc so le gồm một hoặc ba lá chét tròn dài 1,8 — 3,4 em, rộng 2 - 3,5 cm, lá chét ở giữa to hon hai lá bên, cuốn lá dai 2 — 4 cm, hình trụ ở đáy, phủ day lông trang, hai lá kèm hình mũi mác dài 6 — 9 mm, ngang 2 — 3 mm, nhiều gân dọc, day lông trắng mịn.
Lá chét có phiến tròn hoặc hơi xoăn, đường kính 2 — 4 em, mép nguyên, đỉnh tròn hay tù hoặc chia 2 thùy cạn, đáy hình tim, mặt trên nhăn, màu hơi vàng hoặc lục xám, gân lá kiểu lông chim nỗi rõ mặt dưới, gân phụ 8 — 10 đôi. Hai lá chét bên có phần phiến lá 2 bên, gân lá không đồng đều ở gốc: một bên to, một bên nhỏ hơn. Cuống lá có hình tam giác. Trên biêu bì có lớp cutin mỏng, rải ran có lõi khí.
Mô dày, mém, vỏ tê bảo gần tròn, không đều, vách mỏng có 2 — 4 lớp tế bảo. Cụm hoa: Chùm dài đến 5 cm, thường ở ngọn cảnh ít khi ở nách những lá phía ngọn, mỗi mau của chùm là một xim co gồm 2 hoa có chung một lá bắc, giữa 2 gốc cuống hoa có một u lồi nhỏ. Cụm hoa phủ day lông trắng min. Hoa nhỏ, không đều, lưỡng tính.
Hai cuông hoa của xim hướng ra hai bên sau đó xu xuông trên quả. Not san: Hình thành khi cây có 2 - 3 lá thật, và tối đa vào thời điểm hoa rộ. Hình thành do sự cộng sinh giữa rễ cây với vi khuẩn Rhizobium ở các lông hút của rễ. Nốt san hình tròn dài 1 cm, đường kính 5 — 6 mm.
Nót san mới hình thành có mau trắng sữa, nốt san hữu hiệu có màu hồng (Hồ Dinh Hải, 2014). Quả: Khi đậu quả xệ xuống mang đài tồn tại ở gốc ghép nhỏ hơi cong, đài 1,5 — 2 cm có 3 — 6 ngăn. Mùa quả chín từ tháng 9 — 10 dương lịch hang năm. Kim tiền thảo là cây ưa sáng hoặc che bóng một phần, thích hợp khí hậu nóng am và đất ít chua có thành phần cơ giới trung bình, âm và thoát nước, nhưng cũng chịu được đất chua, nghèo và khô hạn.
Cây kim tiền thảo phân bố nhiều ở độ cao < 600 m so với mặt nước biển (Trung tâm Phát triển Kinh tế Nông thôn (CRED), 2020).3 Một số công dụng của kim tiền thảo Cây kim tiền thảo: Theo Đông y đây là một loại cây có vị ngọt, tính hàn (Trung Quốc Dược học Đại từ điển). Trong dân gian, cây kim tiền thảo được dùng thanh nhiệt, lợi thủy, tiêu sạn, giải độc, tiêu viêm (Trung Quốc Dược học). Các nghiên cứu được lý hiện đại cho thấy kim tiền thảo có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, kháng sinh, kháng viêm, giãn mạch, hạ huyết áp. Những công dụng chủ yếu của kim tiền thảo là lợi mật, thông tiểu tiện, thường dùng chữa sỏi thận, sỏi mật, sỏi bàng quang, sỏi đường tiết niệu, viêm gan vàng da, viêm thận phù thũng (được trích dẫn bởi Nguyễn Văn linh, 2022).
Đặc biệt hoạt chất soyasaponin I chứa trong kim tiền thảo đã được chứng minh có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi calci oxalat ở thận. Cao kim tiền thao thi nghiệm trên động vật có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi calci oxalat ở thận do thành phần polysacchorid chứa trong cao có tác dụng này và đồng thời làm tăng lượng bài tiết nước tiêu, kim tiền thảo còn có tác dụng tăng cường sự tiết mật (được trích dan bởi Nguyễn Văn Linh, 2022). Đối với hệ tim mạch, trên thực nghiệm cao kim tiền thảo làm hạ huyết áp, làm tim đập chậm, đồng thời làm giảm mức tiêu thụ oxy của cơ tim. Tác dụng hạ huyết áp do sự kích thích các thụ thé cholinergic và sự phóng bế các thụ thé adrenergic.
Thành phần flavonoid của kim tiền thảo cũng có tác dụng hạ huyết áp. Trong nghiên cứu thực nghiệm, kim tiền thảo có tác dụng đối kháng với các triệu chứng do pituitrin gây giảm lưu lượng mạch vành, thiếu máu cơ tim thé hiện trên điện tâm đồ và rối loạn nhịp tim (Đoàn Khuê, 2014).2 Phương pháp nhân giống cây kim tiền thảo Theo Kiều Tuần Đạt (2012), hiện nay các nghiên cứu về chọn giống kim tiền thảo cho năng suất cao và nguồn hạt giống vẫn còn hạn chế, chủ yếu do các hộ gia đình trồng nhỏ lẻ và thu hoạch làm giống cho vụ sau. Đối với cây kim tiền thảo hiện nay có thé tong hợp thành hai phương pháp nhân giống như sau: 1.1 Nhân giống bằng hom cành - Cây kim tiền thảo có thé trồng bang hom thân hoặc cành thuận lợi nhưng khó chủ động được nguồn giống cung cấp đi nơi khác mà chủ yếu áp dụng trồng tại chỗ. Hơn nữa, việc trồng bằng hom cành và thân phải luân canh liên tục.
- Chiều đài hom cành từ 30 — 40 em, tiêu chuẩn hom là hom ngọn có ít nhất từ 3 - 4 đốt thân và bảo quản hom nơi râm mát và nên trồng trong ngày sau khi cắt hom. - Thời vụ trồng: Đầu xuân ở phía Bắc và đầu mùa mưa ở phía Nam 1.2 Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt Phương pháp nhân giống theo kiến thức bản địa của người dân sử dụng phương pháp gieo hạt thăng (sạ hạt) có nhiều ưu điểm vì hạt giống sẵn có, đỡ tốn công và thuận lợi hơn.3 Cơ sở sinh lý của giầm hom Theo Trần Trọng Nghĩa (2017), bản chất thật sự ra rễ của hom giâm là một quá trình biến đổi hết sức phức tạp, là sự thay đổi tương quan về sinh trưởng và phát triển. Do ban chat hom giâm là một bộ phận không day đủ về cơ quan sinh đưỡng, đặc biệt là rễ vì thế các nhân tố nội sinh và ngoại sinh đóng vai trò tác động quyết định tỷ lệ sống và ra rễ của hom giâm.1 Một số nhân tố nội sinh quan trọng ảnh hưởng đến quá trình giâm hom Theo Trần Trọng Nghĩa (2007) thì đặc tính loài là một trong những yếu tô hàng đầu quyết định khả năng ra rễ của hom giâm. Căn cứ vào tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ của hom giâm mà được chia ra làm ba nhóm gồm nhóm dễ ra rễ: Hom giâm ít cần tác động hỗ trợ của ngoại cảnh, kích thích sinh trưởng vẫn ra rễ với tỷ lệ cao trên 90%.
Nhóm ra rễ trung bình: Hom giâm cần tác động hỗ trợ cơ bản, đơn giản của ngoại cảnh và kích thích sinh trưởng trong thời gian có hạn từ 7 đến 15 ngày thì có thể đạt tỷ lệ sống và ra rễ từ 70 - 80%. Nhóm khó ra rễ: hom giâm yêu cầu thiết lập không gian ngoại cảnh thật hợp lý, thời gian và nồng độ xử lý kích thích sinh trưởng được xác lập rõ cùng với mùa lay hom mới có khả năng ra rễ từ 30 - 70%. Kim tiền thảo thuộc nhóm ra rễ trung bình, vì nếu không sử dụng chất kích thích sinh trưởng, tỷ lệ sống và ra rễ của hom giống van đạt từ 60 - 70%. Tuy nhiên yêu cầu về kỹ thuật phải nghiêm ngặt về kích thước, quy cách lấy hom, thời gian thu hái và điều kiện bảo (được trích dẫn bởi Phan Duy Quốc Trí, 2018).