Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Những lý luận chung về tác động của NĐTNN đến VN30 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận nghiên cứu và khuyến nghị CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CUUVA CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.2 Các nghiên cứu về NDTNN Nhiều bài nghiên cứu đã chỉ ra NDTNN có nhiều ưu thế hơn nhà dau tư trong nước Kamesaka (2003) nghiên cứu chỉ ra rằng thông thường NĐTNN có chất lượng đầu tư tốt nhất trong nhóm nhà đầu tư. Thêm vào đó, Kang (2016) khang định rằng NDTNN có nhiều thuận lợi hơn nhà đầu tu địa phương trong việc tiếp cận thông tin toàn câu và do đó họ có nhiều thông tin dé hỗ trợ việc giao dịch hơn. Lim (2016) chỉ ra rằng nhà đầu tư ngoại có xu hướng nhanh chóng đưa thông tin phản ánh vào giá cô phiếu. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng hành vi giao dịch ngắn hạn của NDTNN là nguyên nhân chính gây bat 6n và khủng hoảng tài chính lai các thị trường tài chính mới nồi.
Cụ thể, Ahmed (2017) chỉ ra việc đảo ngược dòng vốn ngoại được cho là nguyên nhân chính gây khủng hoảng tại các nước phát triển. Nghiên cứu của Bea(2011) thảo luận về vai trò của quỹ đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài đã chỉ ra nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng thích đầu tư vào nhóm cô phiếu Blue-chip, tức các cô phiếu dẫn đầu thị trường.2 Nghiên cứu về NDTNN tác động đến cỗ phiếu Năm 1997, John Clarlk va Elizabeth Berko đã nghiên cứu tác đông của sự thay đổi đầu tư ngoại và lợi nhuận lộ phiếu trên thị trường của Mexico. Ông đã đưa ra kết luận, 1% lượng vốn nước ngoài tăng làm tăng 13% giá chứng khoán trên thị trường nước này.Stulz, đã đưa ra nghiên cứu về mối quan hệ giữa dòng tiền của nhà đầu tư ngoại và thị trường cô phiếu. Ông đã phân tích ảnh hưởng của quỹ đầu tư nước ngoài và lợi nhuận cô phiếu, cũng đưa ra kết luận những nên kinh tế mới nỗi thu hút được nhiều quỹ đầu tư nước ngoài giúp giảm chi phí vốn chủ sở hữu mà không gây bất kì ảnh hưởng xấu nào đến thị trường chứng khoán.
Baklaci, đã đăng tác pham “Do Foreign Investors chase or Impact Returns in Turkey?” Trên tap chí International Conference on Globalization and Its Discontents, Cortland. Nghiên cứu này đưa ra hai kết luận chính. Thứ nhất, các kết quả phân tích VAR cho thay có một sự tương tác qua lại đáng ké giữa dòng tiền của khối ngoại và lợi nhuận của cô phiếu trong thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ. Thứ hai, Lợi nhuận của cổ phiếu là thứ ảnh hưởng lớn nhất đối với việc ra quyết định đầu tư của các quỹ nước ngoài.
Hơn nữa, nghiên cứu này cũng tiết lộ rằng các nhà đầu tư nước ngoài thường xuyên thay đổi cô phiếu trên thị trường này. Samarakoon đã công bố tác pham “The relation between trades of domestic and foreign investors and stock returns in Sri Lanka” trên tạp chí Journal of International Financial Markets, Institutions & Money. Ong da diéu tra méi quan hệ giữa vốn chủ và lợi nhuận của cô phiếu tại Sri Lanka sử dung dữ liệu giao dich hàng ngày được phân theo từng loại nhà đầu tư. Kết quả cho thấy khối lượng giao dịch của khối ngoại và trong nước có tương quan cùng chiều với lợi nhuận cô phiếu trong quá khứ, ngoại trừ trong thời kỳ khủng hoảng, khi họ quá tiêu cực.
Tổ chức trong nước và cá nhân nước ngoài mua hàng có tương quan dương với lợi nhuận cổ phiếu trong tương lai, trong khi đó cá nhân trong nước có tương quan âm và tổ chức nước ngoài không gây ảnh hưởng. Năm 2009, Brian Boyer và Lu Zheng đã nghiên cứu về dòng tiền của nhà đầu tư và lợi nhuận cô phiếu , Nghiên cứu đã sử dung số liệu về lợi nhuận cổ phiếu và khối lượng mua của nhà đầu tư tại Mĩ trong giai đoạn 1952 đến 2004. Kết quả tìm thấy bằng chứng thuyết phục về quan hệ tương quan cùng chiều giữa lợi nhuận cô phiếu với dòng tiền của quỹ tương hỗ và nhà đầu tư ngoại Năm 2004, Magnus Dahlquist và Goran Robertson đã tìm hiểu về giao dịch của nhà đầu tư ngoại và hiệu ứng giá thông qua các công ty. Nghiên cứu này tìm ra mối liên hệ mạnh giữa giao dịch của nha đầu tư ngoại và lợi nhuận cổ phiếu.
Cu thé, luong mua rong cua khối ngoại làm tăng giá cổ phiếu, do những công ty nội địa giảm được chi phí vốn chủ sở hữu. Những nhà đầu tư ngoại dành nhiều sự quan tâm cho những công ty nỗi tiếng và có tiềm năng gần đây. Nhà đầu tư ngoại ít giao dịch theo thông tin. Năm 2010, Rotledge đã nghiên cứu về lợi nhuận của cô phiếu và đầu tư nước ngoài tại Brazil thay rằng các dòng đầu tư nước ngoài thúc day lợi nhuận tron giai đoạn 1995 đến 2005.
Có một sự tương quan mạnh, mặc dù không phải là quan hệ nhân quả. Đầu tư nước ngoài, tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng của thị trường chứng khoán thế giới và rủi ro quốc gia có thể giải thích 73% sư thay đôi của lợi nhuận cổ phiếu trong thời gian này. Ông cũng thấy rằng giao dịch phan hồi tích cực là quan trọng và thị trường nhanh chóng đồng hap thụ thông tin mới. Baklaci đã nghiên cứu về ảnh hưởng của đầu tư ngoại đến chi số BIST100 của Thổ Nhĩ Kì.
Kết quả cho thấy dau tư của quỹ nước ngoài và dong vốn ngoại có ảnh hưởng đến chỉ số chứng khoán của nước này. Ông đã sử dụng dữ liệu 522 tuần tính từ 07.2015, chuỗi thời gian và phương pháp VAR đã được áp dụng.Baklaci đã sử kiểm tra quan hệ nhân quả, và đưa ra kết luận có quan hệ nhân quả giữa khối lượng mua của nhà đầu tư ngoại và chỉ số BIST100. Năm 2017, Xuan Vinh Vo cũng đưa ra nghiên cứu về ảnh hưởng của khối ngoại đến lợi nhuận của cô phiếu tại thị trường Việt Nam và đưa ra một vài lý do. Đầu tiên, nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường có trải nhiệm đâu tư và kĩ năng quản lý tốt.
Thứ hai, lượng giao dịch của nhà đầu tư ngoại có mối liên hệ chặt chẽ với lượng giao dịch của nhà đầu tư nội địa. Kết quả của nghiên cứu là nhà đầu tư ngoại có giao dịch phản hồi tích cực tại thị trường chứng khoán Việt Nam và giá tăng khi nhà đầu tư ngoại bán, giảm khi nhà đầu tư ngoại tăng. Mặc dù đã có những nghiên cứu về tác động của nhà đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán nhưng các nghiên cứu trước đây phần lớn đến từ những quốc gia khác. Tuy đã có nghiên cứu cua Vo Xuan Vinh(2017) vé trường hop của Việt Nam nhưng thời gian nghiên cứu và bộ số liệu sử dụng là hoàn toàn khác nhau.
Vì vây, với những lý do trên, việc lựa chọn nghiên cứu về “Tác động của nhà đầu tư nước ngoài đến chỉ số VN30” là cần thiết và không trùng lặp với những công trình nghiên cứu đã có. Kết quả của những nghiên cứu trước đây là tiên đê, cơ sở lý luận đê tác giả dựa trên và phát triên nghiên cứu của mình.2 Lý luận chung về NDTNN trên TTCK 1.1 Các chủ thé tham gia TTCK và NĐTNN tại TTCK Việt Nam 1.1 Các chủ thể tham gia TTCK Theo giáPGS. Nguyễn Thị Minh Huệ và PGS. Trần Đăng Khâm (đồng chủ biên, 2016), cho rằng các chủ thể và cá nhân tham gia TTCK có thê được chia thành 3 nhóm sau: “chủ thể phát hành, chủ thê đầu tư và các tô chức có liên quan đến chứng khoán”.
© Chủ thé phát hành là doanh nghiệp, chính phủ hoặc những tổ chức mà phát hành các sản pham ra công chúng. Cụ thé: Doanh nghiệp niêm yết có thé phát hành cô phiếu- người nam giữ cổ phiếu là chủ sở hữu, phát hành trái phiéu- người năm giữ trái phiếu là chủ nợ. Nhà nước và chính quyền địa phương chỉ được pháp phát hành trái phiếu, tín phiếu trên thị trường. Một số tô chức khác như quỹ đầu tư được phép phát hành chứng chỉ quỹ © Chủ thé dau tư là những có vôn, thực hiện hành vi mua bán chứng khoán dé kiếm lời, lợi nhuận của NDT đến từ hai nguồn chính, nguồn đến từ tổ chức phát hành gồm lãi suất và cô tức, nguồn đến từ khoản chêch lệch do tị trường định gia.
NDT được chia thành 2 loại: NDT cá nhân và NDT có tổ chức. Nhà đầu tr cá nhân làcác cá nhân và hộ gia đình, họ đem tiền nhàn rỗi đầu tư vào các chứng khoán trên TTCK với mục tiêu làm khoản đầu tư sinh lời. Tuy nhiên, trong đầu tư thì lợi nhuận luôn gan với rủi ro, kỳ vọng lợi nhuận càng cao thì mức độ chấp nhận rủi ro càng phải lớn và ngược lại. Vì vậy NDT cá nhân cần tìm hiểu và lựa chon đầu tư vào những chứng khoán có mức độ rủi ro và lợi nhuận kì vọng phù hợp với khả năng chấp nhận rủi ro và mức kì vọng lợi nhuận của mình.
Nhà đầu tr có tổ chức là các định chế bao gồm ngân hàng, quỹ dau tư, công ty bảo hiểm,.những tổ chức này thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. NĐT cá nhân cũng cỏ thê góp vốn dé đầu tư thông qua các tổ chức, việc đầu tư thông qua các tổ chức này đem lại nhiều ưu điểm như: danh mục đầu tư đa dạng giúp giảm thiểu rủi ro, những tô chức này quy tụ đội ngũ chuyên gia, quyết định đầu tư được dựa trên điều tra và phân tích, khi các quỹ đầu tư vào cổ phiếu dé dàng thương lượng được mức giá ưu đãi. 11 Các tổ chức có liên quan đến TTCK Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động TTCK Tùy vào từng quốc gia mà cơ quan quản lý TTCK là khác nhau. Cụ thể, tại Việt Nam theo nghị định số 75 CP ngày 28/11/1996 của Chính Phủ, Ủy ban chứng khoán nhà nước được thành lập dé quản lý và giám sát TTCK, đây là một cơ quan trực thuộc bộ tài chính.
Sở giao dịch chứng khoán là co quan vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức và hệ thống các quuy định, văn bản pháp luật về giao dịch chứng khoán trên cơ sở phù hợp với các quy định, văn bản pháp luật về giao dịch chứng khoán trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật và Ủy ban chứng khoán.