CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Trong những năm gần đây, công nghiệp hỗ trợ và đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ đề thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là các nước Đông Á như Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, v.v… Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào những vấn đề cơ bản của công nghiệp hỗ trợ, vai trò của công nghiệp hỗ trợ, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, hay đánh giá những khó khăn trong việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, v.v… Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra vai trò quan trọng của công nghiệp hỗ trợ đối với phát triển kinh tế nói chung, và đặc biệt là thu hút FDI nói riêng. Tuy nhiên ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI lại không phải là trọng tâm của các nghiên cứu này. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vấn đề lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ. Thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” (CNHT) được xuất hiện lần đầu trong cuốn sách trắng về hợp tác kinh tế của Bộ công thương Nhật Bản (MITI, 1985) nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại (METI), để chỉ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng góp cho sự phát triển về cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước Châu Á, đây chính là các công ty sản xuất và cung cấp linh kiện, phụ tùng.
Thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” về sau được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các nước Đông Á. Tuy nhiên, khái niệm CNHT cho đến nay chưa có một cách hiểu thống nhất, với mỗi nghiên cứu thuật ngữ này lại có các định nghĩa khác nhau. Vai trò của CNHT được nhắc đến trong nghiên cứu của Porter (1990), theo Porter thì 4 nhân tố trong mô hình Kim cương gồm (i) điều kiện nguồn lực; (ii) điều kiện cầu; (ii) chiến lược, cấu trúc và đối thủ của công ty; (iv) các ngành công nghiệp hỗ trợ & liên quan là những nhân tố ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh quốc gia. Porter đề cao vai trò của CNHT và các ngành công nghiệp liên quan, coi đó là động lực thúc đẩy phát triển và là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia, của ngành.
Công nghiệp có liên quan là những ngành mà các công ty có thể phối hợp hoặc chia sẻ hoạt động trong chuỗi giá trị của ngành, có các sản phẩm bổ sung hay chuyển giao kỹ năng được quyền từ ngành này sang ngành khác (Porter, 2008). Vai trò của CNHT còn được đề cập trong nhiều nghiên cứu sau này của JICA (1995), Ratana (1999), Thomas Brandt (2012), K. Các nghiên cứu đều 8 khẳng định vai trò quan trọng của CNHT đối với quá trình công nghiệp hoá và phát triển kinh tế. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản - JICA (1995) đưa ra những kết luận về mối liên hệ, tính liên kết trong sản xuất sản phẩm, cũng như những yêu cầu và điều kiện thúc đẩy CNHT Nhật Bản phát triển, góp phần phát triển nền kinh tế.
Ratana (1999) phân tích mối quan hệ giữa DNNVV với CNHT tại hai nước Nhật Bản và Thái Lan, từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa DNNVV với CNHT, đồng thời nhấn mạnh CNHT chủ yếu được thực hiện bởi các DNNVV. Vì vậy, muốn phát triển CNHT cần phải dựa trên nền tảng phát triển các DNNVV. Cũng khẳng định vai trò quan trọng của CNHT đối với phát triển kinh tế, tuy nhiên tác giả Thomas Brandt (2012) đi sâu phân tích vai trò ngành cơ khí, nhấn mạnh rằng để phát triển ngành CNHT cơ khí đòi hỏi phải duy trì lợi thế cạnh tranh thông qua các kỹ năng, chuyên môn, kinh nghiệm bằng cách giảm chi phí, giảm thời gian đưa sản phẩm ra thị trường, quản lý sản phẩm và giới thiệu các sản phẩm mới hiệu quả hơn, quản lý hoạt động toàn cầu, phục vụ nhu cầu của khách hàng và nhà cung cấp một cách nhanh chóng, thiết lập trung tâm dịch vụ giá trị cao. Đặt trong khung phân tích chuỗi giá trị, với mục tiêu xây dựng một chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp, K.Ohno (2005) tổng quát hóa thành các nhóm ngành CNHT sẽ đóng vai trò đảm bảo quá trình công nghiệp hóa (CNH) được diễn ra một cách “lành mạnh và trôi chảy”.
Goh Ban Lee (1998) phân tích mối quan hệ chặt chẽ trong hợp tác, phân công lao động với các MNC trong quá trình phát triển kinh tế. Nghiên cứu đã đánh giá rất cao vai trò của chính sách phát triển nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ liên kết của chính phủ Malaysia giữa các MNC của Nhật Bản với các doanh nghiệp nội địa sản xuất linh kiện cho ngành điện tử. Cùng quan điểm với Goh Ban Lee, nhóm tác giả Noor Halim, Clarke Roger, Driffield Nigel (2002) cũng chỉ ra vai trò quan trọng của sự hỗ trợ từ phía Chính phủ đối với sự đổi mới và sáng tạo của các doanh nghiệp nội địa trong phát triển cung ứng cho ngành công nghiêp điện tử Malaysia. Tổ chức năng suất lao động châu Á (Asian productivtity Orgnisation, 2002) đã đúc kết kinh nghiệm phát triển CNHT, đây là tài liệu hữu ích cho các nước đang phát triển về chính sách phát triển CNHT qua các thời kỳ ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.
Các chính sách này tập trung vào một số điểm chính như: thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển CNHT, quy định về tỷ lệ nội địa hoá và các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hiệu quả từ phía Chính phủ dành cho liên kết các doanh nghiệp, như là điều kiện tiên quyết để phát triển CNHT. Báo cáo của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC, 2004) phân tích quá trình sản xuất của các chi nhánh thuộc các Tập đoàn Nhật Bản tại các nước Châu Á, 9 như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống các nhà thầu phụ sản xuất linh kiện, phụ tùng. Đây chính là các DNHT có vốn đầu tư từ Nhật Bản. Các DNHT này cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, máy móc cho các nhà sản xuất và lắp ráp tại các nước Châu Á: Thái Lan, Malaysia, Indonesia.
Ohno và Fujimoto (2006) và nhóm nghiên cứu đại học Tokyo đã đưa ra lý thuyết về cấu trúc kinh doanh để giải thích những khác biệt cơ bản giữa các ngành công nghiệp chế tạo của một số nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật, Trung Quốc. Công trình nghiên cứu về sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ trong mối quan hệ với thu hút FDI Tác giả Ryuichiro, Inoue (1999) đánh giá sự phát triển của CNHT ở Thái Lan và Malaysia sau cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997, và chỉ ra sự cần thiết phải điều chỉnh chiến lược nhằm phát triển các ngành CNHT sau khủng hoảng. Nhóm tác giả đưa ra các giải pháp điều chỉnh chính sách công nghiệp sau cuộc khủng hoảng như: tăng cường phát triển CNHT ngành ô tô, ngành điện tử, v.v… thúc đẩy mô hình cụm liên kết công nghiệp, đặc biệt nhấn mạnh xây dựng hệ thống ngành CNHT hoàn chỉnh. Peter (2011) khẳng định sự phát triển toàn diện của ngành CNHT Thái Lan tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các nhà sản xuất, các nhà lắp ráp giảm thời gian, chi phí và tăng hiệu quả sản xuất thông qua việc tìm kiếm nguồn cung ứng đầu vào tại Thái Lan.
Tác giả cũng nhấn mạnh rằng ngành CNHT phát triển đã thúc đẩy nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng ổn định và bền vững. Và đó cũng chính là một trong những yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh nhằm thu hút FDI của Thái Lan so với các nước khác. Vì lý do đó, Thái Lan đã được đánh giá là một trong những quốc gia hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Là một trong những tác giả tiên phong trong việc nghiên cứu về CNHT tại Việt Nam, Ichikawa (2004) đã chỉ ra rằng ngành CNHT Việt Nam cuối cùng cũng đang phát triển và bắt đầu phát triển.
Việc đánh giá này được dựa trên ba quan sát quan trọng, cụ thể là, (i) sự gia tăng dòng vốn FDI; (ii) cải cách thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước; và (iii) sự xuất hiện của các doanh nghiệp tư nhân. Ichikawa cũng nhấn mạnh: để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài nhằm phát triển CNHT của Việt Nam cần cung cấp một môi trường kinh doanh mở và miễn phí, đặc biệt là bãi bỏ quy định và khung chính sách ổn định là điều kiện quan trọng nhất, thêm vào các yêu cầu thông thường của chất lượng lao động cao hơn, cải thiện cơ sở hạ tầng và áp dụng chính sách thuế ưu đãi. Nghiên cứu của Mori J, Ohno K (2004) cho rằng chiến lược phát triển các ngành CNHT nội địa cần phải được xây dựng trên cơ sở hiểu biết đầy đủ về nhu cầu mua sắm của các MNC vốn dĩ đang cạnh tranh rất khốc liệt trên thị trường quốc tế. Tỷ 10 lệ nội địa hóa quá cao không những làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước mà còn cản trở dòng dòng vốn FDI vào Việt Nam.
Một tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc và phi lý thậm chí có thể khiến các nhà sản xuất nước ngoài rời khỏi các nước đang đầu tư. Công trình nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để thu hút FDI? Các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm lợi ích gì khi đầu tư vào một nước nào đó? Có rất nhiều lý thuyết giải thích về các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI như: Lý thuyết quốc tế hóa (Coase, 1937), lý thuyết về lợi thế so sánh (Hymer, 1960), lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm (Vernon, 1966), lý thuyết chiết trung - OLI (Dunning 1973, 1993, 2001, 2006). Tuy nhiên, trong những nghiên cứu gần đây thì lý thuyết chiết trung được sử dụng phổ biến nhất. Lý thuyết này được cho là đã kế thừa tất cả những ưu điểm của các lý thuyết khác về FDI, hội tụ được các nguyên lý đã đề cập trước đó để giải thích sự dịch chuyển FDI vào một quốc gia.
Theo Dunning các công ty sẽ thực hiện FDI khi hội tụ đủ ba lợi thế: Lợi thế về sở hữu (O), lợi thế địa điểm (L) và lợi thế nội bộ hoá (I). Dựa trên nền tảng lý thuyết đó, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI tại các nước trên thế giới nói chung và các nước đang phát triển nói riêng.