Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Thu Thuỷ với đề tài "Ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam – Nghiên cứu trường hợp tỉnh Vĩnh Phúc", được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Ngọc Đức (năm 2017), thuộc chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (mã số: 62.01).
+-------------------------------------------------------------------+
| ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ ĐẾN THU HÚT FDI VÀO VIỆT NAM |
| - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH VĨNH PHÚC - |
+---------------------------------+---------------------------------+
|
+----------------------+----------------------+
| |
v v
+-----------------------------------------------+ +-----------------------------------------------+
| MÔ HÌNH EFA (SPSS) | | MÔ HÌNH LOGIT (EVIEWS) |
| Đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp | | Xác định các nhân tố nội tại ảnh hưởng đến |
| FDI đối với các nhà cung cấp linh kiện nội địa| | khả năng DNHT trở thành nhà cung ứng cho DNFDI|
+-----------------------------------------------+ +-----------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các nền kinh tế đang phát triển đã ghi nhận sự gia tăng tỷ trọng đáng kể trên quy mô toàn cầu, từ mức 15% năm 1990 lên 37% năm 2008 (theo UNCTAD, 2009) và đạt xấp xỉ 46% vào năm 2011 (theo UNCTAD, 2012). Đối với Việt Nam, sau 30 năm mở cửa kinh tế, FDI đã trở thành nguồn lực bổ sung vốn đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu, chuyển giao kỹ thuật và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, trong bối cảnh các nguồn tài chính khác như viện trợ phát triển chính thức (ODA) có xu hướng sụt giảm và các khoản vay thương mại tạo áp lực nợ, sự cạnh tranh giữa các quốc gia đang phát triển trong việc đưa ra các chính sách ưu đãi tài chính truyền thống đang dần suy giảm hiệu lực thực tế (Dunning và Narula, 2000). Sự phát triển của hệ thống công nghiệp hỗ trợ (CNHT) nội địa trở thành một trong những điều kiện tiên quyết giữ vai trò quyết định đến năng lực cạnh tranh và sức hút dòng vốn FDI chất lượng cao.
Tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, sau 20 năm tái lập tỉnh, hoạt động thu hút FDI được xác định là trọng tâm thúc đẩy phát triển công nghiệp và kinh tế - xã hội. Đến năm 2015, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Vĩnh Phúc xếp vị trí thứ 4 trên 63 tỉnh thành cả nước và đứng thứ 2 tại khu vực Đồng bằng sông Hồng (sau Quảng Ninh). Mặc dù vậy, ngành CNHT tại Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng vẫn bộc lộ tính chất manh mún, quy mô nhỏ, tỷ lệ nội địa hoá thấp và khả năng cung ứng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNFDI) còn nhiều hạn chế.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và quốc tế chủ yếu tiếp cận CNHT ở góc độ khái niệm, xác định phạm vi, phân tích vai trò hoặc các rào cản phát triển, mà chưa làm rõ các kênh tác động cụ thể của CNHT đến việc thu hút FDI trên các phương diện: quy mô vốn, chất lượng dòng vốn và cơ cấu dự án FDI. Hơn nữa, các công trình trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp định tính mô tả, thiếu sự kết hợp giữa các mô hình định lượng thực nghiệm để đo lường mức độ hài lòng của DNFDI và xác định các yếu tố nội tại giúp doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (DNHT) nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là luận giải cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển CNHT và thu hút FDI; đánh giá thực trạng ảnh hưởng của CNHT đến dòng vốn FDI vào Việt Nam và tỉnh Vĩnh Phúc; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển CNHT nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI.
Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu được đánh số cụ thể trong văn bản:
- Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Công nghiệp hỗ trợ ảnh hưởng đến thu hút FDI như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Mức độ phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Công nghiệp hỗ trợ ảnh hưởng đến thu hút FDI vào Việt Nam nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu thứ tư: Làm thế nào để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ góp phần thu hút FDI vào Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp hỗ trợ có vốn FDI và doanh nghiệp hỗ trợ nội địa thuộc khu vực đầu tư trực tiếp trong nước - DDI) và ảnh hưởng của CNHT đến thu hút FDI vào Việt Nam, với nghiên cứu trường hợp điển hình tại tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực trạng thu hút FDI và phát triển CNHT trên phạm vi cả nước, đồng thời tiến hành khảo sát thực nghiệm chuyên sâu đối với các doanh nghiệp hoạt động bên trong và bên ngoài các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp và thực tiễn hoạt động thu hút FDI, phát triển CNHT được thu thập và phân tích trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2016; các định hướng và giải pháp được xây dựng cho các giai đoạn tiếp theo.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Các nghiên cứu quốc tế được tác giả tổng thuật theo các nhóm chủ đề chính:
- Nguồn gốc thuật ngữ và vai trò nền tảng của CNHT: Thuật ngữ "Supporting Industry" xuất hiện lần đầu trong Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985 và năm 1987 của Bộ Công Thương Nhật Bản (MITI, nay là METI) với khái niệm gốc tiếng Nhật là Suso-no Sangyuo (chân núi công nghiệp), chỉ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) cung ứng linh kiện, phụ tùng và cơ sở hạ tầng sản xuất. Michael Porter (1990, 2008) trong mô hình Kim cương khẳng định các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan là một trong bốn đỉnh quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Các công trình của JICA (1995), Ratana (1999), Thomas Brandt (2012), K. Ohno (2005) khẳng định CNHT là nền tảng bảo đảm công nghiệp hoá ổn định. Goh Ban Lee (1998), Noor Halim, Clarke Roger và Driffield Nigel (2002) chỉ ra vai trò của chính sách hỗ trợ liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia (MNC) với doanh nghiệp bản địa tại Malaysia. Tổ chức Năng suất Châu Á (APO, 2002) và Báo cáo Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC, 2004) đúc kết các chính sách tỷ lệ nội địa hoá và mạng lưới thầu phụ tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia và Indonesia.
- Mối quan hệ giữa CNHT và năng lực thu hút FDI: Nghiên cứu của Ryuichiro và Inoue (1999), Peter (2011) về kinh nghiệm tái thiết ngành công nghiệp ô tô, điện tử của Thái Lan và Malaysia sau khủng hoảng tài chính năm 1997 chỉ ra rằng một hệ thống CNHT hoàn chỉnh giúp cắt giảm chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian giao hàng và duy trì dòng vốn FDI ổn định. Ichikawa (2004), Mori J. và Ohno K. (2004), Prema-Chandea Athukorala (2002), Pham Truong Hoang (2005), Do Manh Hong (2004, 2008), Mori J. (2005), Ohno (2007, 2008) khẳng định CNHT hoạt động như bộ khuếch đại chuyển giao công nghệ và là yếu tố cạnh tranh thay thế dần cho lợi thế nhân công giá rẻ. Khảo sát của JBIC (2004) chỉ ra tỷ lệ nội địa hoá của Trung Quốc đạt 55,9% (năm 2003), Thái Lan đạt 47,9% (năm 2004) giúp hai quốc gia này duy trì vị trí dẫn đầu trong thu hút FDI của Nhật Bản, trong khi Việt Nam chỉ đạt tỷ lệ nội địa hoá 22,6% (năm 2003). Nghiên cứu của Thi Minh Hieu Vuong và Kenji Yokoyama (2011) áp dụng kỹ thuật ma trận tầm quan trọng - mức độ thực hiện (IPA) trên mẫu 1.500 doanh nghiệp Nhật Bản đã xác định 23 thuộc tính ảnh hưởng đến thu hút FDI, trong đó phát triển CNHT và chuỗi cung ứng là thuộc tính then chốt.
- Các lý thuyết nền tảng về FDI: Tác giả hệ thống hoá lý thuyết quốc tế hoá của Coase (1937), lý thuyết lợi thế so sánh của Hymer (1960), lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm của Vernon (1966) và lý thuyết chiết trung OLI của Dunning (1973, 1993, 2001, 2006). Đồng thời tổng hợp các nhân tố tác động đến FDI từ các nghiên cứu của Beven & Estrin (2000), Pravakar Sahoo (2006), Pravin Jadhav (2012), Ab Quyoom Khachoo & Mohd Imran Khan (2012), Mohamed Amal và cộng sự (2010).
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Khái niệm và định vị CNHT: Trần Văn Thọ (2006), Nguyễn Thị Xuân Thúy (2007, 2011), Lê Thành Ý (2007), Hoàng Văn Việt (2012), Trương Thị Chí Bình (2010), Hà Thị Hương Lan (2014), Nguyễn Văn Trinh (2012), Hoàng Văn Châu (2010), Lê Xuân Sang và cộng sự (2011), Võ Thanh Thu và Nguyễn Đông Phong (2014) làm rõ khái niệm sản phẩm trung gian, linh kiện, phụ liệu và quy trình tham gia mạng sản xuất toàn cầu.
- Tiêu chuẩn và nhân tố phát triển CNHT: Nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Công nghiệp Hỗ trợ (SIDEC thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp - Bộ Công Thương, 2015) xác định khung tiêu chuẩn nhà cung cấp cho MNC gồm chất lượng (Q - Quality), giá cả (C - Cost), giao hàng (D - Delivery), môi trường (E - Environment), tài chính (F - Finance), công nghệ (T - Technology), trách nhiệm xã hội (R - Responsibility), và luật pháp (L - Laws). Vũ Chí Lộc (2010), Lưu Tiến Dũng và cộng sự (2014) áp dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) phân tích ngành cơ khí Đồng Nai, chỉ ra 6 yếu tố trực tiếp (nhân lực, năng lực cạnh tranh, chính sách thuế, thể chế, cầu thị trường, bất cân xứng thông tin) và 3 yếu tố gián tiếp (chất lượng, chi phí, năng lực cung ứng). Trương Bá Thanh & Nguyễn Ngọc Anh (2014), Trần Quang Hậu (2015), Phạm Thu Hương (2013), Hoàng Mai Vân Anh (2014), Nguyễn Thị Phương Nhung (2014) phân tích các nhân tố lợi thế vùng và chuỗi giá trị toàn cầu theo khung lý thuyết của Gereffi, Korzenniewicz (1994) và Michael Porter.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết các hạn chế còn tồn tại trong y văn:
- Xác lập khung phân tích toàn diện đánh giá các kênh ảnh hưởng của CNHT đến thu hút FDI trên cả ba khía cạnh: quy mô vốn, chất lượng công nghệ và cơ cấu ngành/địa phương.
- Xây dựng mô hình định lượng kép: kết hợp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để lượng hoá mức độ hài lòng của DNFDI đối với nhà cung ứng nội địa và mô hình hồi quy nhị phân Logit nhằm xác định các yếu tố nội tại tác động đến khả năng DNHT trở thành nhà cung ứng chính thức cho DNFDI.
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm chi tiết về thực trạng hoạt động của khối doanh nghiệp CNHT nội địa (DDI) so với doanh nghiệp CNHT có vốn FDI tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm công nghiệp hỗ trợ: Luận án tiếp cận định nghĩa CNHT từ góc độ lý thuyết kinh tế (nhóm sản xuất hàng hoá trung gian và tư liệu sản xuất) và góc độ thực tiễn (sản xuất linh kiện, phụ tùng, khuôn mẫu, gia công xử lý bề mặt) theo khung phân tích của MITI (1985, 1987), Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (2004), BSID & BOI Thái Lan (1995), Mori (2005), Ohno (2005) và Trần Văn Thọ (2006).
- Lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài: Sử dụng định nghĩa chuẩn mực của IMF (1993), OECD (1996) với ngưỡng sở hữu tối thiểu 10% quyền biểu quyết bảo đảm mối quan hệ kiểm soát dài hạn, và UNCTAD (2012). Luận án vận dụng mô hình lý thuyết "Vòng luẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài" của Paul Samuelson và Khung lý thuyết chiết trung OLI của Dunning (Lợi thế sở hữu - O, Lợi thế địa điểm - L, Lợi thế nội bộ hoá - I), trong đó CNHT đóng vai trò cấu thành cốt lõi của lợi thế địa điểm (L).
- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của CNHT:
- Chỉ tiêu quy mô: Giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN); số lượng doanh nghiệp CNHT tuyệt đối và tỷ lệ so với doanh nghiệp hạ nguồn; quy mô vốn, lao động, doanh thu trung bình.
- Chỉ tiêu chất lượng: Trình độ công nghệ, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế (ISO, 5S, LEAN, tiêu chí QCD), tính ổn định của hợp đồng cung ứng và khả năng cung ứng nội địa so với nhập khẩu và tự sản xuất khép kín (in-house).
- Chỉ tiêu cơ cấu: Phân bố sản phẩm theo các tầng giá trị trong chuỗi cung ứng (thượng nguồn, trung nguồn, hạ nguồn) và theo các ngành công nghiệp mũi nhọn (linh kiện phụ tùng ô tô - xe máy, điện tử, dệt may, da giày, công nghệ cao).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh chuỗi dữ liệu lịch sử giai đoạn 2005–2016, phương pháp tổng hợp phân tích văn bản pháp lý và kỹ thuật phỏng vấn sâu. Phỏng vấn sâu được tiến hành với cán bộ quản lý thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Ban Xúc tiến và Hỗ trợ Đầu tư (IPA), Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc cùng lãnh đạo cấp cao của một số doanh nghiệp.
- Phương pháp định lượng:
- Mô hình 1 - Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Đo lường độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha và trích xuất các nhóm nhân tố bằng EFA trên phần mềm SPSS để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của DNFDI đối với nhà cung ứng nội địa (gồm chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, môi trường sản xuất, tài chính, công nghệ, nhân lực, cam kết trách nhiệm).
- Mô hình 2 - Hồi quy xác suất Logit: Ước lượng mô hình Logit trên phần mềm Eviews nhằm xác định xác suất trở thành nhà cung cấp cho DNFDI dựa trên các biến số nội tại của DNHT (loại hình sản xuất, trình độ công nghệ, thiết bị, quản lý sản xuất hiện đại, chất lượng lao động, kênh tiếp thị, rào cản tài chính/thị trường).
Nguồn dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Số liệu niên giám thống kê từ Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan; số liệu khảo sát của Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Công nghiệp Hỗ trợ (SIDEC) thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp; Báo cáo từ Đề án "Khuyến khích phát triển CNHT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn đến năm 2025" của UBND tỉnh Vĩnh Phúc.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua phiếu điều tra bảng hỏi trực tiếp tại các doanh nghiệp FDI sản xuất lắp ráp và các doanh nghiệp sản xuất CNHT (bao gồm doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp DDI) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Nội dung chính theo từng chương
CẤU TRÚC 5 CHƯƠNG CỦA LUẬN ÁN
|
+--------------------------------------------+--------------------------------------------+
| | | | |
v v v v v
[CHƯƠNG 1] [CHƯƠNG 2] [CHƯƠNG 3] [CHƯƠNG 4] [CHƯƠNG 5]
Tổng quan Cơ sở lý luận Thực trạng CNHT Nghiên cứu thực Giải pháp phát
các công trình về ảnh hưởng và thu hút FDI nghiệm tại tỉnh triển CNHT nhằm
nghiên cứu CNHT đến FDI tại Việt Nam Vĩnh Phúc (EFA/Logit) thu hút FDI
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu
Chương 1 thực hiện tổng thuật có hệ thống các tài liệu học thuật trong và ngoài nước về CNHT và mối liên hệ giữa CNHT với thu hút FDI. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trên thế giới đã chuyển đổi nhận thức từ việc xem xét các ưu đãi tài chính và nhân công giá rẻ sang nhấn mạnh sự sẵn có của mạng lưới nhà cung ứng địa phương (JBIC 2004, Mori 2005, Ohno 2007). Tại Việt Nam, đa số các công trình chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng yếu kém của CNHT (Trần Văn Thọ 2006, Nguyễn Thị Xuân Thuý 2007) hoặc giải pháp phát triển ngành đơn lẻ (Trương Thị Chí Bình 2010, Lưu Tiến Dũng 2014) mà chưa phân tích các kênh tác động cụ thể đến thu hút FDI và thiếu các kiểm định thực nghiệm kinh tế lượng. Đây là cơ sở xác lập khoảng trống nghiên cứu cho luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2 hoàn thiện khung lý luận về CNHT và FDI. Luận án phân tích chi tiết đặc điểm ngành CNHT: đòi hỏi suất đầu tư vốn lớn cho máy móc thiết bị, yêu cầu lao động kỹ thuật cao, sản xuất đa tầng theo mô hình kim tự tháp, liên kết chặt chẽ với công nghiệp hạ nguồn và có phạm vi lan toả lớn (ngành cơ khí, nhựa, đúc, rèn, dệt may, da giày, linh kiện điện tử).
Tác giả luận giải cơ chế ảnh hưởng của CNHT đến thu hút FDI qua 3 kênh chính:
- Ảnh hưởng đến quy mô FDI: CNHT phát triển giúp hạ thấp chi phí tồn kho, giảm chi phí vận chuyển linh kiện nhập khẩu, nâng cao hiệu quả hoạt động theo quy mô, từ đó gia tăng quy mô vốn FDI đăng ký và mở rộng dự án.
- Ảnh hưởng đến chất lượng FDI: Sự sẵn có của nhà cung ứng kỹ thuật cao thúc đẩy các tập đoàn đa quốc gia chuyển giao công nghệ nguồn, thành lập trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D) và giảm thiểu xu hướng biến nước tiếp nhận thành "bãi rác công nghệ" hoặc gia công giá trị thấp.
- Ảnh hưởng đến cơ cấu FDI: Định hướng dòng vốn FDI dịch chuyển vào các ngành công nghiệp chế tạo có hàm lượng công nghệ cao thay vì khai thác tài nguyên thô; đồng thời hỗ trợ phân bổ FDI hài hoà giữa các vùng kinh tế thông qua việc hình thành các cụm liên kết ngành (industrial clusters).
Chương này cũng tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế: Thái Lan thành công nhờ chính sách phát triển cụm ngành ô tô và cơ quan chuyên trách BSID/BOI; Malaysia phát triển ngành điện tử qua thúc đẩy liên kết doanh nghiệp nội địa với MNCs; Trung Quốc phát huy dung lượng thị trường nội địa lớn gắn với tỷ lệ nội địa hoá cao.
Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Chương 3 rà soát khung pháp lý phát triển CNHT tại Việt Nam và phân tích bức tranh thực tế giai đoạn 2005–2016 trên các lĩnh vực: sản xuất linh kiện phụ tùng (cơ khí, nhựa, cao su), CNHT ngành dệt may - da giày và CNHT công nghệ cao.
Tác giả chỉ ra rằng mặc dù quy mô dòng vốn FDI vào Việt Nam liên tục tăng trưởng, cơ cấu FDI tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo và các địa phương có hạ tầng phát triển (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bình Dương, Đồng Nai), ngành CNHT nội địa vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn:
- Tỷ lệ nội địa hoá trong các ngành lắp ráp còn thấp, khu vực DNFDI chiếm tỷ trọng áp đảo trong kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu linh kiện (tỷ trọng nhập khẩu linh kiện phục vụ sản xuất của khu vực FDI luôn ở mức cao).
- Phần lớn sản phẩm phụ trợ giá trị gia tăng cao do các doanh nghiệp FDI phụ trợ cung cấp; các doanh nghiệp DDI chỉ tham gia vào các khâu bao bì, gia công đơn giản hoặc cung ứng chi tiết cấp 2, cấp 3 với giá trị gia tăng hạn chế.
- Hiện tượng chuyển giá và mức độ liên kết dọc giữa DNFDI và doanh nghiệp nội địa còn yếu, làm hạn chế hiệu ứng lan toả công nghệ.
Chương 4: Nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 4 trình bày kết quả điều tra khảo sát và ước lượng thực nghiệm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Tác giả so sánh cơ cấu hoạt động giữa hai nhóm DNHT: nhóm FDI và nhóm DDI nội địa về loại hình sản xuất, mức độ đầu tư thiết bị máy móc, công nghệ áp dụng, phương pháp quản lý chất lượng (5S, Lean, ISO), chất lượng nhân lực và kênh tiếp cận thị trường.
| Nội dung kiểm định thực nghiệm |
Phương pháp & Công cụ |
Phát hiện và Kết quả thống kê chính |
| Đánh giá mức độ hài lòng của DNFDI về nhà cung cấp nội địa |
Phân tích độ tin cậy Cronbach's Alpha và Phân tích nhân tố khám phá (EFA) trên phần mềm SPSS |
Bảng tổng hợp thang đo đạt độ tin cậy; trích xuất các nhân tố đại diện. DNFDI đánh giá nhà cung cấp nhập khẩu và FDI vượt trội hơn hẳn doanh nghiệp DDI về chất lượng (Q), công nghệ (T), năng lực tài chính (F) và quản lý sản xuất; doanh nghiệp DDI chỉ có ưu thế tương đối về chi phí giá cả (C) và khoảng cách địa lý nhưng không đủ bù đắp khoảng cách kỹ thuật. |
| Các yếu tố nội tại tác động đến khả năng DNHT trở thành nhà cung ứng |
Mô hình hồi quy xác suất Logit trên phần mềm Eviews |
Kết quả ước lượng mô hình Logit khẳng định các biến số có ý nghĩa thống kê tác động dương đến xác suất trở thành nhà cung cấp cho DNFDI gồm: việc áp dụng các phương pháp quản lý sản xuất hiện đại (5S, ISO, Lean), trình độ thiết bị công nghệ tiên tiến, tỷ lệ lao động kỹ thuật cao và tính chủ động của các kênh tiếp thị kết nối khách hàng. Các rào cản về vốn và bất cân xứng thông tin làm giảm đáng kể khả năng gia nhập chuỗi cung ứng. |
Chương 5: Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Dựa trên bối cảnh hội nhập quốc tế (các hiệp định FTA thế hệ mới, sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư toàn cầu) và thực trạng tại Việt Nam, Chương 5 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
- Hoàn thiện cơ chế chính sách: Nâng cao tính thực thi của khung pháp lý về CNHT, đơn giản hoá thủ tục ưu đãi thuế và đất đai.
- Hỗ trợ tài chính và tiếp cận vốn: Thành lập và vận hành hiệu quả quỹ phát triển CNHT, bảo lãnh tín dụng cho DNNVV đổi mới máy móc thiết bị.
- Hỗ trợ chuyển giao công nghệ và quản trị: Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quản trị quốc tế (5S, LEAN, ISO, TPM) và hỗ trợ kết nối chuyển giao kỹ thuật từ các tập đoàn FDI.
- Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên vận hành máy và nâng cao năng lực cho đội ngũ quản trị cấp trung.
- Xây dựng mô hình phát triển CNHT theo cụm ngành: Tập trung vào các ngành mũi nhọn (cơ khí chế tạo chính xác, linh kiện điện tử, phụ tùng ô tô xe máy); phát triển các doanh nghiệp quy mô trung tâm đóng vai trò dẫn dắt mạng lưới vệ tinh DNNVV.
- Tăng cường liên kết DNFDI và DNHT nội địa: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về năng lực DNHT, tổ chức hội chợ kết nối cung - cầu định kỳ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận
- Hệ thống hoá và làm sâu sắc thêm cơ sở lý thuyết về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển CNHT và thu hút FDI tại các quốc gia đang phát triển; xác lập 3 kênh ảnh hưởng cơ bản của CNHT đến dòng vốn FDI gồm: quy mô vốn, chất lượng chuyển giao công nghệ và cơ cấu ngành - vùng lãnh thổ.
- Thiết lập khung phân tích thực nghiệm gồm 2 mô hình kinh tế lượng bổ trợ: mô hình EFA đánh giá mức độ hài lòng của các nhà lắp ráp FDI đối với hệ thống cung ứng nội địa và mô hình Logit xác định các yếu tố quyết định khả năng tham gia mạng lưới cung ứng của DNHT nội địa.
Đóng góp mới về thực tiễn
- Phản ánh bức tranh thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp CNHT nội địa so với doanh nghiệp CNHT có vốn FDI tại tỉnh Vĩnh Phúc và Việt Nam trong giai đoạn 2005–2016 thông qua hệ thống dữ liệu điều tra sơ cấp.
- Chỉ ra các rào cản nội tại của DNHT Việt Nam (thiếu vốn đầu tư thiết bị, trình độ công nghệ lạc hậu, thiếu nhân lực kỹ thuật, chậm áp dụng các chuẩn mực quản lý sản xuất hiện đại) dẫn đến tỷ lệ tham gia vào chuỗi cung ứng FDI còn thấp.
- Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi gắn với thực tiễn: từ hoàn thiện chính sách ưu đãi tài chính, hỗ trợ đào tạo nhân lực, xây dựng cơ sở dữ liệu kết nối cung - cầu đến phát triển mô hình cụm liên kết ngành và doanh nghiệp trung tâm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Khảo sát thực nghiệm định lượng được thực hiện tập trung trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong khung thời gian 2005–2016. Mặc dù Vĩnh Phúc là địa phương có tính đại diện cao cho các đặc điểm chung của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam, mẫu nghiên cứu vẫn mang tính chất địa bàn cụ thể và chưa phản ánh hết tính đa dạng đặc thù của các trung tâm công nghiệp khác tại miền Trung và miền Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Các công trình tiếp theo có thể mở rộng phạm vi điều tra khảo sát trên quy mô liên tỉnh thuộc các vùng kinh tế trọng điểm (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ), thực hiện các nghiên cứu so sánh sâu theo từng phân ngành công nghiệp riêng biệt (như ngành công nghiệp bán dẫn, công nghiệp phụ tùng ô tô cao cấp) và cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2016 để đánh giá tác động của các cam kết thương mại tự do mới.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các bộ phận tham mưu tại Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp và UBND các tỉnh, thành phố có thể tham khảo Chương 5 để xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính, chương trình phát triển nhà cung cấp và cổng thông tin cơ sở dữ liệu liên kết CNHT - FDI.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế đầu tư, Quản trị kinh doanh về phương pháp xây dựng khung lý thuyết OLI kết hợp mô hình Kim cương của Porter, quy trình thiết kế bảng hỏi khảo sát doanh nghiệp và kỹ thuật xử lý định lượng bằng EFA (SPSS) và Logit (Eviews).
- Cộng đồng doanh nghiệp CNHT và nhà đầu tư FDI: Giúp các doanh nghiệp CNHT nội địa nhận diện rõ các tiêu chuẩn bắt buộc (QCD, môi trường, công nghệ, quản trị Lean/5S) để nâng cao năng lực cạnh tranh và giúp các nhà đầu tư FDI đánh giá thực trạng nguồn cung linh kiện tại chỗ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những mô hình định lượng nào để phân tích dữ liệu khảo sát tại tỉnh Vĩnh Phúc?
Tác giả sử dụng kết hợp hai mô hình định lượng chính: (1) Phân tích nhân tố khám phá (EFA) kết hợp kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha trên phần mềm SPSS để đánh giá các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của doanh nghiệp FDI đối với nhà cung cấp nội địa; (2) Mô hình hồi quy xác suất Logit trên phần mềm Eviews nhằm đánh giá tác động của các yếu tố nội tại của DNHT đến khả năng trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI sản xuất.
2. Các tiêu chuẩn cơ bản nào được xác định để một doanh nghiệp CNHT trở thành nhà cung cấp cho tập đoàn đa quốc gia?
Dựa trên tổng thuật từ nghiên cứu của SIDEC (2015) và K. Ohno (2007), DNHT cần thoả mãn các tiêu chuẩn cốt lõi gồm: Chất lượng (Quality - Q), Giá cả (Cost - C), Thời gian giao hàng (Delivery - D), Môi trường (Environment - E), Tài chính (Finance - F), Công nghệ (Technology - T), Trách nhiệm xã hội (Responsibility - R) và Tuân thủ pháp luật (Laws - L).
3. Theo kết quả điều tra của JBIC (2004) được trích dẫn trong luận án, tỷ lệ nội địa hoá của Việt Nam so với các nước trong khu vực như thế nào?
Theo kết quả khảo sát của JBIC (2004) đối với các tập đoàn đa quốc gia Nhật Bản, tỷ lệ nội địa hoá của Việt Nam năm 2003 chỉ đạt 22,6%, thấp hơn đáng kể so với Trung Quốc (55,9% năm 2003) và Thái Lan (47,9% năm 2004).
4. Luận án chỉ ra những rào cản nội tại chính nào khiến DNHT nội địa khó liên kết với doanh nghiệp FDI?
Các rào cản chính bao gồm: quy mô vốn nhỏ và khó tiếp cận tín dụng dài hạn, máy móc thiết bị lạc hậu, tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật cao còn thấp, chậm áp dụng các phương pháp quản lý sản xuất hiện đại (5S, Lean, ISO), thiếu tính chủ động trong các kênh tiếp thị và sự bất cân xứng thông tin cung - cầu giữa nhà lắp ráp và nhà cung ứng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Thu Thuỷ đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và kiểm định thực nghiệm về ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam qua trường hợp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005–2016. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng (EFA, mô hình Logit), tác giả đã chứng minh vai trò quyết định của năng lực cung ứng nội địa đối với quy mô, chất lượng và cơ cấu dòng vốn FDI. Công trình cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp các nhà quản lý và doanh nghiệp hoạch định các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp hỗ trợ trong giai đoạn hội nhập.