Chương 1: Giới thiệu Mục tiêu của phần này nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về toàn bộ công trình nghiên cứu thông qua việc trình bãy rõ động cơ nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu. Chương 2: Khung lý thuyết Trình bày sơ lược về lý thuyết về mối quan hệ của FDI, nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế để làm tiền đề, nền tảng lý thuyết cho bài nghiên cứu. Bên cạnh đó, 1 Việc giai đoạn nghiên cứu xuất phát từ năm 1986 bắt nguồn từ việc dữ liệu dòng vốn FDI ròng mang dấu âm trước năm 1986; do đó, không thể chuyển về dạng logarite cho mục đích phân tích thực nghiệm. Tại thời điểm tháng 5/2020, nguồn dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) cung cấp dữ liệu vĩ mô của Việt Nam đến tối đa năm 2018.
123doc 14 chương này còn tóm lược lại các kết quả nghiên cứu thực nghiệm liên quan khác nhằm củng cố và phát triển hướng nghiên cứu. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Mô tả về mẫu dự liệu và các biến trong mô hình nghiên cứu đồng thời cũng nêu lên trình tự xây dựng mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ giải thích và phân tích chi tiết về kết quả thực nghiệm. Thảo luận và đưa ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu. Chương 5: Kết luận Tổng hợp các vấn đề nghiên cứu và những thảo luận đã được trình bày từ đó đưa ra những đóng góp, gợi ý chính sách và những mặt hạn chế, hướng phát triển của đề tài.
123doc 15 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT 2. Các lý thuyết nền tảng về tăng trưởng kinh tế với FDI và nhập khẩu 2. FDI và tăng trưởng kinh tế Có một lượng lớn tài liệu phân tích mối liên kết hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và FDI. Liệu FDI là một yếu tố quan trọng quyết định tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển, vẫn còn được tranh luận giữa các nhà kinh tế.
Trên thực tế, vai trò của FDI trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã được nhìn nhận từ các lý thuyết tăng trưởng kinh tế khác nhau. Lý thuyết tân cổ điển (neoclassical theory) về tăng trưởng kinh tế tìm cách đưa ra lời giải thích về hệ quả cũng như nguyên nhân của sự hiện diện của FDI ở các quốc gia đang phát triển. Trong các lý thuyết tân cổ điển, dòng vốn FDI là một giải pháp để lấp đầy lỗ hổng tiết kiệm–đầu tư, chênh lệch tỷ giá hối đoái và lỗ hổng tài khóa ở các quốc gia đang phát triển. Rostow (1956, 1971) phát triển mô hình tăng trưởng kinh tế theo giai đoạn nhằm giải thích sự hiện diện của dòng vốn FDI trong quá trình chuyển đổi kinh tế ở các quốc gia đang phát triển.
Trong mô hình, dòng vốn FDI vào các quốc gia đang phát triển được xem là cách giúp đáp ứng các yêu cầu về vốn cũng như chuyển giao các công nghệ mới trong các nền kinh tế chuyển đổi. Solow (1956) phát triển mô hình tăng trưởng tân cổ điển mới, và cho thấy kết quả tăng trưởng sản lượng từ các yếu tố như tăng chất lượng và số lượng lao động thông qua tăng trưởng dân số và giáo dục, tăng vốn thông qua vốn nước ngoài và tiến bộ trong công nghệ. Ngược lại, trong các lý thuyết tăng trưởng nội sinh (endogenous growth theory), tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế được giải thích thông qua các ngoại tác tri thức (knowledge externality) và sự tồn tại của nguồn nhân lực ở các quốc gia tiếp nhận đang phát triển. Để giải thích vai trò của FDI lên tăng trưởng dài hạn của các nước tiếp nhận, Lucas (1988, 1990), Romer (1986, 1987) và Mankiw và cộng sự (1992) sửa đổi mô hình tăng trưởng tân cổ điển, đặc biệt là mô hình tăng 123doc 16 trưởng Solow, bằng cách đưa vào các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng gồm nguồn nhân lực cũng như vốn vật chất để giải thích sự hiện diện của FDI ở các quốc gia đang phát triển.
Balasubramanyam và cộng sự (1996) chỉ ra nhiều yếu tố thúc đẩy tăng trưởng được xác định bởi lý thuyết tăng trưởng mới có thể được khởi xướng và củng cố nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua FDI. Trong nghiên cứu của mình, các tác giả thấy rằng FDI là công cụ chính để thúc đẩy tăng trưởng thông qua việc học qua hành (learning by doing) và lan tỏa kiến thức. Blomstrom và Kokko (1998) lập luận rằng các tập đoàn đa quốc gia (MNC) mang các công nghệ hiện đại vào các nước tiếp nước nhằm cạnh tranh thành công với các MNC và doanh nghiệp địa phương khác. Điều này buộc các công ty địa phương phải tìm kiếm, cũng như mô phỏng các công nghệ mới và hiệu quả hơn.
Vai trò của FDI trong việc thúc đẩy nguồn nhân lực ở các quốc gia đang phát triển được hiểu rõ hơn trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh. Theo lý thuyết này, FDI đóng góp đáng kể vào vốn nhân lực như kỹ năng quản lý và nghiên cứu và phát triển (R&D). Các MNC có thể có tác động tích cực đến nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận thông qua các khóa đào tạo cho các công ty con (chi nhánh). Các khóa đào tạo ảnh hưởng đến hầu hết các cấp độ nhân viên từ những người có kỹ năng đơn giản đến những người sở hữu kỹ năng quản lý và kỹ thuật tiên tiến.
Các hoạt động nghiên cứu và phát triển được tài trợ bởi các MNC cũng đóng góp vào vốn nhân lực ở các nước tiếp nhận, và do đó, cho phép các nền kinh tế này phát triển lâu dài (Balasubramanyam và cộng sự, 1996; Blomstrom và Kokko, 1998). Mặt khác, lý thuyết chiết trung của FDI (eclectic theory), được phát triển bởi Dunning (1979, 1980, 1985, 1988 và 1993), cung cấp công cụ thay thế để phân tích mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Dựa trên lợi thế về vị trí, nhiều nghiên cứu thực nghiệm phát hiện rằng tăng trưởng kinh tế là yếu tố quyết định quan trọng của FDI. Chakrabarti (2001), Asiedu (2002) và Zhao (2003) chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế cao hơn dẫn đến dòng vốn FDI lớn hơn vì đây là thước đo sức hấp dẫn của các nước tiếp nhận.
Moore (1993), Lucas (1993), và Cernat và Vranceanu (2002) lập luận rằng khi tăng trưởng kinh tế tăng lên, dòng vốn FDI vào nước tiếp nhận có xu hướng được khuyến khích. Nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế Từ quan điểm lý thuyết, không giống như mối quan hệ xuất khẩu–tăng trưởng, mối quan hệ giữa nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế là không rõ ràng vì chủ yếu, nhập khẩu ở mức độ lớn được coi là sự rò rỉ của dòng tuần hoàn thu nhập quốc dân, tức là hầu hết chi tiêu nhập khẩu (import expenditure) làm giảm nguồn thu nhập quốc gia (Grossman và Helpman, 1991). Tuy nhiên, các nhà kinh tế thường đồng ý rằng tác động của nhập khẩu lên GDP bắt nguồn từ thực tế là nhập khẩu cho phép một quốc gia có được các yếu tố sản xuất mà họ không thể tự sản xuất được, do không có công nghệ, nhân lực, kỹ năng cần thiết, v. Phân tích tác động của nhập khẩu lên tăng trưởng kinh tế giúp mở khóa các câu trả lời cho câu hỏi liệu thương mại quốc tế về kiến thức công nghệ có thúc đẩy sản lượng quốc gia cao hơn hay không.
Nhập khẩu được coi là kênh khuếch tán phổ biến trong thương mại vốn và công nghệ quốc tế; bởi vì không chỉ việc nhập khẩu chuyên môn kỹ thuật nước ngoài có tiềm năng làm tăng mức sản xuất trong nước, mà còn bởi nhập khẩu là một đại diện mạnh mẽ cho tương tác kinh tế giữa các công dân của một nước và các đối tác nước ngoài của họ (Ram, 1990). Cùng với phân tích trên, Coe và cộng sự (1997) quan sát một số kênh thông qua đó nhập khẩu tác động lên tăng trưởng GDP. Đầu tiên, các tác giả lưu ý rằng việc nhập khẩu hàng hóa vốn trung gian có thể làm tăng mức độ dung lượng vốn sản xuất của một quốc gia, mà cuối cùng sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, nhập khẩu làm tăng mức GDP bằng cách cho phép các quốc gia có chuyên môn kỹ thuật thấp (bên trong biên giới công nghệ) như các quốc gia đang phát triển, thích nghi và áp dụng các phát minh công nghệ tiên tiến từ những quốc gia có bí quyết kỹ thuật cao hơn (ví dụ các quốc gia phát triển).
Thứ ba, nhập khẩu hoặc thương mại quốc tế mang lại cơ hội học hỏi các phương pháp phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn cho các quốc gia, có ảnh hưởng lớn đến năng suất và tăng mức thu nhập quốc dân. Đi đôi với điều này là thực tế, hàng hóa nhập khẩu có thể cải thiện chất lượng của các công nghệ bản địa hoặc trong nước thông qua việc tạo ra sự cạnh tranh buộc các ngành công nghiệp trong nước phải cải thiện kỹ thuật 123doc 18 sản xuất. Sự cải thiện chất lượng sản xuất trong nước giúp cải thiện năng suất và do đó, dẫn đến tăng mức sản lượng quốc gia. Mức độ của hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu chủ yếu được quyết định bởi cả lực lượng kinh tế (economic force) và phi kinh tế (non-economic force).
Các lực lượng kinh tế bao gồm mức độ hoạt động kinh tế, tỷ giá hối đoái, yếu tố tương đối và giá sản phẩm, mức lương và cả điều kiện kinh tế trong và ngoài nước; trong khi môi trường chính trị bên trong và bên ngoài sẽ bao gồm một số yếu tố phi kinh tế quyết định mức độ nhập khẩu. Theo Rivera-Batiz (1985), sự gia tăng mức độ của cả hoạt động kinh tế trong và ngoài nước kích thích nhu cầu nhập khẩu, vì với thu nhập thực tăng lên, nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Nhu cầu tiêu dùng cao làm tăng mức độ tổng cầu của nền kinh tế và do đó, đến lượt tăng trưởng kinh tế. Điều này tạo thành mối liên kết trực tiếp giữa nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế.
Một cái nhìn rõ ràng hơn về mối quan hệ nhập khẩu–tăng trưởng kinh tế được cung cấp bởi các mô hình tăng trưởng nội sinh, coi sự tăng trưởng xảy ra từ các yếu tố nội bộ. Theo Grossman và Helpman (1991), các mô hình tăng trưởng nội sinh cho rằng nhập khẩu cung cấp một hành lang quan trọng để phổ biến các công nghệ, vốn và kiến thức tiên tiến từ bên ngoài vào nền kinh tế trong nước, từ đó cải thiện năng suất dẫn đến tăng trưởng sản lượng.