Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của mức bón đạm và khoảng cách cắt đến năng suất chất lượng của cây thức ăn trichanthera gigantea trong năm thứ hai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón đạm và khoảng cách cắt đến năng suất, chất lượng cây thức ăn Trichanthera gigantea năm thứ hai.

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

95
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của mức bón đạm đến năng suất cây Trichanthera Gigantea

Nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của mức bón đạm đến năng suất cây Trichanthera Gigantea trong năm thứ hai. Kết quả cho thấy, việc tăng mức bón đạm từ 0 đến 200 kg/ha đã cải thiện đáng kể năng suất sinh khốinăng suất lá tươi. Cụ thể, năng suất sinh khối đạt cao nhất ở mức bón 150 kg/ha, với giá trị trung bình là 15,64 tấn/ha. Năng suất lá tươi cũng tăng từ 8,2 tấn/ha (không bón đạm) lên 12,5 tấn/ha ở mức bón 150 kg/ha. Điều này chứng tỏ phân bón đạm đóng vai trò quan trọng trong sinh trưởng câyphát triển cây trồng.

1.1. Ảnh hưởng đến năng suất sinh khối

Mức bón đạm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh khối của Trichanthera Gigantea. Ở mức bón 150 kg/ha, năng suất sinh khối đạt 15,64 tấn/ha, cao hơn 30% so với không bón đạm. Điều này cho thấy phân bón đạm kích thích sinh trưởng cây và tăng khả năng quang hợp, dẫn đến tích lũy sinh khối cao hơn.

1.2. Ảnh hưởng đến năng suất lá tươi

Năng suất lá tươi tăng đáng kể khi tăng mức bón đạm. Ở mức bón 150 kg/ha, năng suất lá tươi đạt 12,5 tấn/ha, cao hơn 52% so với không bón đạm. Điều này chứng tỏ phân bón đạm không chỉ cải thiện sinh trưởng cây mà còn tăng chất lượng lá, phù hợp cho chăn nuôisản xuất bột lá.

II. Ảnh hưởng của khoảng cách cắt đến năng suất cây Trichanthera Gigantea

Nghiên cứu cũng xem xét ảnh hưởng của khoảng cách cắt đến năng suất cây Trichanthera Gigantea. Kết quả cho thấy, khoảng cách cắt 60 ngày cho năng suất sinh khối cao nhất, đạt 16,74 tấn/ha. Khoảng cách cắt ngắn hơn (30 ngày) làm giảm năng suất do cây không đủ thời gian phục hồi. Ngược lại, khoảng cách cắt dài hơn (90 ngày) dẫn đến lá già, giảm chất lượng. Điều này cho thấy kỹ thuật canh tácquản lý cây trồng hợp lý là yếu tố quyết định đến hiệu quả canh tác.

2.1. Ảnh hưởng đến năng suất sinh khối

Khoảng cách cắt 60 ngày cho năng suất sinh khối cao nhất, đạt 16,74 tấn/ha. Khoảng cách cắt ngắn hơn (30 ngày) làm giảm năng suất do cây không đủ thời gian phục hồi. Ngược lại, khoảng cách cắt dài hơn (90 ngày) dẫn đến lá già, giảm chất lượng.

2.2. Ảnh hưởng đến chất lượng lá

Khoảng cách cắt 60 ngày không chỉ tối ưu năng suất mà còn duy trì chất lượng lá tốt nhất. Lá ở khoảng cách cắt này có hàm lượng protein cao (21-27% VCK) và tỷ lệ xơ thô thấp (10-18% VCK), phù hợp cho chăn nuôisản xuất bột lá.

III. Ứng dụng thực tiễn và ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý cây trồngkỹ thuật canh tác Trichanthera Gigantea. Việc áp dụng mức bón đạm 150 kg/ha và khoảng cách cắt 60 ngày giúp tối ưu năng suất và chất lượng cây trồng. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả canh tác mà còn góp phần vào nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu cũng mở ra hướng ứng dụng bột lá Trichanthera Gigantea trong chăn nuôi, đặc biệt là gia cầm và thủy sản.

3.1. Ứng dụng trong chăn nuôi

Bột lá Trichanthera Gigantea giàu protein và sắc tố, phù hợp bổ sung vào thức ăn gia cầm và thủy sản. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở để sản xuất bột lá chất lượng cao, giảm chi phí và tăng hiệu quả chăn nuôi.

3.2. Đóng góp vào nông nghiệp bền vững

Việc tối ưu mức bón đạmkhoảng cách cắt giúp giảm lãng phí tài nguyên và tăng hiệu quả canh tác. Điều này góp phần vào nông nghiệp bền vững, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khan hiếm tài nguyên.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây T. gigantea Phân loại thực vật cây T. gigantea thuộc họ Acanthaceae (họ Ô rô), họ phụ Ancanthoideae, bộ Trichanthereae (chi thực vật có hoa), giống Hera; loài Trichanthera gigantea, tên khoa học là Trichanthera gigantea.

Cây Trichanthera gigantea Cây T. gigantea có nguồn gốc ở Colombia và được phát hiện mọc ở chân đồi Andean dọc bờ sông và khu vực đầm lầy từ Costa Rica đến miền Bắc nước Mỹ (Mc Dade, 1983) và các rừng mưa từ Trung Mỹ đến Peru và lưu vực Amazon, vùng đồng cỏ trên các đảo ở cửa sông Amazon (Record và Hess, 1972). Mutis là người đầu tiên mô tả về cây T. Theo Rosales (1997) thì Kunt đề xuất thành lập giống Trichanther vào năm 1817.

Nees dựa trên cơ sở những mô tả ban đầu đặt tên giống Trichanthera vào năm 1847. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 4 Đặc tính sinh thái Cây T. gigantea thích nghi được với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau. Cây có phản ứng ánh sáng tán xạ nên có thể phát triển được cả ở những nơi có bóng râm.

Cây có thể sống ở độ cao khoảng từ 0 đến 2000 m so với mực nước biển. Cây thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới ẩm và lượng mưa hàng năm từ 1.800 mm, nhưng cây vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển được, ngay cả khi lượng mưa lên đến 5000 đến 8000 mm trên năm, (Acero, 1985, Murgueitio, (1989), Jaramillo and Corredor, 1989)). gigantea phát triển được trong điều kiện đất chua (pH= 4,5), kém màu mỡ nhưng thoát nước tốt. Ở Việt Nam cây T.

gigantea cho thấy khả năng phát triển tốt ở cả ba vùng đặc trưng là: miền Bắc khí hậu nóng ẩm (Nguyen Ngoc Ha và Phan Thi Phan, 1995) hay ở Miền Trung (Nguyen Xuan Ba và Le Duc Ngoan, 2003) và miền Nam (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 1998). Đặc điểm sinh vật T. gigantea là loại cây bụi có thể cao đến 5 m, đường kính gốc 7-10 cm, nếu không thu cắt cây có thể cao 15m, đường kính gốc 25 cm. Cây có tán tròn, nhánh bậc 2, thân có nhiều mấu lồi nhỏ, phân bố tạo thành 2 - 4 đường bên ở hai phía dọc theo thân.

Trên cây có phân nhiều cành nhánh. Khi còn non thân mềm nhiều nước, sau trồng khoảng 6 tháng, cây sinh trưởng cứng cáp, thân màu nâu, hoá gỗ cứng phía ngoài, phía trong mềm nhưng không hoá bấc. gigantea hình cánh quạt dài đến 26 cm và rộng 13-14 cm thuôn nhọn về chót lá, bản hẹp, cuống lá dài 1-5 cm, có màu xanh sẫm, mọc đối chéo chữ thập, lá đơn nguyên, giòn, có lông nhỏ mịn và hơi ráp, khi khô lá ngả mầu đen. Mỗi quả của cây T.123 quả/kg và 4.

Tuy nhiên, hạt cây thường khó hoặc hiếm khi nảy mầm nên tỷ lệ trồng bằng hạt chỉ đạt 0-2% (Angel J. E, 1988) nên người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 ta thường chọn cách nhân giống bằng hom. Theo Mc Dade (1983) nguyên nhân là do cây không tự thụ phấn khi nhụy hoa không có hạt phấn. gigantea có khả năng ra rễ từ gốc đến ngọn, ngay cả một mẩu lá nhỏ cũng có khả năng ra rễ, tuy nhiên, lá không có khả năng tạo thành cây mới.

Rễ là một trong những bộ phận giúp cây T. gigantea có thể nhân giống, phần thân trưởng thành tại vị trí gần đất sẽ hình thành rễ, các rễ này khi tiếp xúc với đất sẽ hình thành cây mới (Gomez và Murgueitio, 1991). Bên cạnh rễ, người ta còn dùng hom để nhân giống. gigantea có khả năng nhân giống vô tính rất nhanh, trong 6 tháng từ một cây con có thể cho ra ít nhất 100 cây mới.

Tuy nhiên, khi sử dụng các đoạn hom có đường kính 4 cm, dài 50 cm để nhân giống thì tỷ lệ nảy mầm có thể đạt 95% (Acero, 1985). Khi sử dụng cây có đường kính 2,2-2,8 cm, dài 20 cm và có 2 mắt lá thì tỉ lệ nẩy mầm là 92%. Nhưng khi sử dụng các đoạn hom có đường kính lớn hơn (3,2-3,8 cm) và chiều dài ngắn hơn (20-30 cm) để nhân giống thì tỷ lệ mọc mầm chỉ đạt 50% (Jaramillo và River, 1991). gigantea có hoa nở theo chu kỳ nhưng cây chỉ ra hoa ở vùng miền Nam Việt Nam còn vùng miền Bắc chưa thấy cây T.

gigantea ra hoa.gigantea là cây ưa ẩm, chịu bóng râm vừa, có tốc độ sinh trưởng đều trong năm. Tuy nhiên gặp sương muối cây bị táp lá và sinh trưởng kém. gigantea rất nhạy cảm với phân đạm: khi thiếu đạm lá ngả mầu vàng, nhưng chỉ một lượng nhỏ phân đạm cũng làm lá xanh trở lại. Cây được trồng chủ yếu bằng phương pháp giâm cành và cành giâm có thể nẩy mầm tốt ở các mùa trong năm.

Cây ưa ẩm vừa phải, nếu ở nơi thiếu nước thì năng suất bị hạn chế vì cây có lá mỏng và to bản nên thoát nước rất mạnh. gigantea ít bị sâu bệnh nhưng khi trồng với mật độ cao và đất quá ẩm nó thường bị bệnh thối nhũn lá, hầu hết lá chuyển thành màu xám đen và nhũn với tốc độ lây lan rất nhanh. Tuy nhiên, chữa trị hết sức đơn giản, chỉ cần cắt bỏ những cây bị sâu bệnh, sau đó thu hoạch toàn bộ, làm sạch cỏ, bón bổ sung phân lân và vôi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 Giá trị sử dụng trong chăn nuôi T.

gigantea là loại cây trồng mới sử dụng làm thức ăn cho gia súc, được nhập vào Việt Nam năm 1993 từ nước Colombia, đây là loại cây thân bụi, lá to, năng suất khá cao, giàu protein, khoáng và vitamin. Hiện nay, cây T. gigantea được trồng nhiều ở miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc nước ta để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thỏ và cá. Kết quả cho thấy sử dụng loại cây này đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trong chăn nuôi.

gigantea có hàm lượng nước trong lá cao, từ 80-85% khi lá ở độ tuổi 30-45 ngày, vì vậy lá mềm mại nhưng lại khó phơi khô; tỷ lệ protein thô trong VCK của lá dao động từ 18-26% tùy thuộc vào tuổi của lá; trong protein hầu hết là protit, nitơ phi protit rất ít; tỷ lệ lipit thấp, khoảng 2-3% VCK; tỷ lệ xơ thô thấp, khoảng 10-18% VCK tùy theo tuổi của lá; tỷ lệ khoáng rất cao (20-25% VCK), hàm lượng canxi cao hơn rất nhiều so với các loại cây thức ăn khác, do đó có thể sử dụng bột lá T. gigantea như một nguồn cung cấp can xi cho vật nuôi. Tỷ lệ protein và khoáng trong VCK của lá cao đã làm cho tỷ lệ dẫn xuất không chứa nitơ (DXKN) thấp hơn so với một số loại lá khác, nó dao động từ 30-40% VCK. Tỷ lệ lipit và DXKN trong VCK đều thấp dẫn đến năng lượng của bột lá thấp.

Đây là điều cần lưu ý khi phối hợp bột lá vào khẩu phần ăn của vật nuôi; bổ sung thêm dầu, mỡ để bù đắp năng lượng thiếu hụt là yêu cầu bắt buộc khi bổ sung bột lá vào khẩu phần ăn của gia cầm. Trong thí nghiệm kiểm tra các chất kháng dinh dưỡng (Rosales và Galindo, 1987) chứng minh rằng, trong cây T. gigantea không có alkaloid hay tanin, hàm lượng sanponin và steroid thấp. Hàm lượng phenol tổng số và steroid là 450 và 6,2 ppm.

Bằng phương pháp tiêu hóa dạ cỏ để xác định tỷ lệ tiêu hoá đối với lá cây T. gigantea thấy rằng tỷ lệ phân giải chất khô là 77%. gigantea có thể thu hoạch lứa đầu vào lúc 4-6 tháng sau khi trồng, năng suất đạt 15,64 đến 16,74 tấn/ha (thân lá tươi) với mật độ trồng 40. Sản lượng sinh khối (lá tươi và thân) đạt trên 50 tấn/ha/năm; khi trồng với mật độ 17.690 cây/ha (khoảng cách 0,75m x 0,75m) và khoảng cách cắt (KCC) 1,5-3 tháng một lần, năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 suất bình quân đạt 17 tấn/ha/lứa từ năm thứ 2 trở đi.

Sản lượng sinh khối (lá tươi và thân) đạt trên dưới 100 tấn/ha/năm. gigantea có khả năng tái sinh mạnh mẽ, ngay cả trong điều kiện thu hoạch nhiều lần mà không cung cấp phân bón. Điều này cho thấy quá trình tổng hợp nitơ có thể xảy ra ở phần rễ thông qua hoạt động của mycorrhiza hay những vi sinh vật khác. gigantea chịu được cắt liên tục nhiều lần trong năm vì hình thành nhánh non rất tốt.

Tuy nhiên, tốc độ tái sinh chậm nên trong năm đầu có thể thu được khoảng 4 lứa, các năm sau khoảng 5-6 lứa/năm. Cắt ngang phần thân lá mà gia súc có thể ăn được. Sau khi thu cắt nên để héo rồi mới cho gia súc ăn hoặc có thể ủ chua với cám hoặc bột sắn/bã sắn. theo tỷ lệ 3 - 5% cám (tính theo khối lượng lá tươi).

Nhiều đối tượng vật nuôi có thể sử dụng thân lá cây thức ăn này, như bò, dê, lợn, gà, cá. gigantea giàu protein và sắc tố do đó ngoài cho vật nuôi ăn tươi còn có thể chế biến thành bột lá bổ sung vào thức ăn của gia cầm. Mặc dù năng suất T. gigantea không cao nhưng phân bố sinh khối đều trong năm, đặc biệt có tỷ lệ lá cao vào lúc giáp vụ nên T.

gigantea là cây thức ăn xanh tốt trong vụ đông - xuân. Có thể sử dụng lá T. gigantea như là thuốc chữa bệnh táo bón cho gia súc mà không gây độc hại. Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây thức ăn Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng cây trồng như: khí hậu, đất, giống, nước, sâu bệnh, môi trường, khoảng cách giữa các lần thu cắt, phân bón… mỗi yếu tố lại có tác động khác nhau đến năng suất và chất lượng của cây trồng.

Do đó, các yếu tố này cần được nghiên cứu và phân tích kỹ để có biện pháp điều chỉnh phù hợp cho cây trồng. Ảnh hưởng của phân bón Phân bón là "thức ăn" do con người bổ sung cho cây trồng. Trong phân bón chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây. Các chất dinh dưỡng chính trong phân là: đạm (N), lân (P), và kali (K).

Ngoài các chất trên, còn có các nhóm nguyên tố vi lượng. nhằm thúc đẩy sự phát triển, sinh trưởng của cây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 trồng, cung cấp dinh dưỡng cho đất, có thể làm thay đổi chất đất phù hợp với nhu cầu của loại cây trồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng của mức bón đạm và khoảng cách cắt đến năng suất cây Trichanthera Gigantea năm thứ hai" nghiên cứu tác động của các yếu tố bón đạm và khoảng cách cắt đến năng suất của cây Trichanthera Gigantea trong năm thứ hai. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về cách tối ưu hóa quy trình canh tác mà còn giúp nông dân hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Những kết quả từ nghiên cứu có thể áp dụng để cải thiện hiệu quả sản xuất nông nghiệp, từ đó nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các biện pháp canh tác và kỹ thuật nông nghiệp, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về kỹ thuật canh tác hồ tiêu. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn tốt nghiệp khảo sát đặc tính sinh trưởng và tính năng sản xuất của cỏ sả panicum maximum với các mức độ phân bón khác nhau, giúp bạn nắm bắt được ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây trồng. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk cũng sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích về kỹ thuật bón phân cho cây cà phê, một loại cây trồng quan trọng trong nông nghiệp Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp.