CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu hành vi chia sẻ tri thức 1. Khái niệm và vai trò của chia sẻ tri thức trong quản trị tri thức 1. Khái niệm về chia sẻ tri thức Tri thức là một dạng tổng hợp của cảm nhận, kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong ngữ cảnh giúp tạo khuôn khổ cho việc đánh giá và tiếp nhận những kinh nghiệm và thông tin mới.
Các nhà nghiên cứu khác nhau sử dụng các thuật ngữ khác nhau để định nghĩa tri thức Dữ liệu (data) Thông tin (information) Kinh nghiêm Quá trình tổng hợp (experience) (consequense) Tri thức Hình 1.1: Quá trình hình thành tri thức Nguồn: tác giả tự tổng hợp Thuật ngữ tri thức có ít nhất hai nghĩa tùy thuộc vào góc tiếp cận: tri thức cá nhân và tri thức công cộng/ tổ chức. Trong đó “Tri thức cá nhân là sự kết hợp của thông tin, kinh nghiệm, sự hiểu biết và quá trình tổng hợp giúp ích cho cá nhân đưa ra quyết định hoặc giải quyết các vấn đề” (Bhatt, 1998). Chia sẻ tri thức - CSTT (Knowledge Sharing) là quá trình chuyển giao tri thức (đặc biệt là tri thức ẩn) từ người này sang người kia. Đây là một giai đoạn quan trọng bởi nó giúp cho sự thành công của chia sẻ trong toàn tổ chức (Hopkins, 2007).
Về cơ bản, yếu tố chính của chia sẻ tri thức là một quá trình nhằm thu được kinh nghiệm từ những người khác. Theo Wasko MM(2005) chia sẻ tri thức là một quá trình quản lý tri thức được sử dụng để tạo, thu hoạch và duy trì các quy trình kinh doanh. Becerra-Fernandez, (2010) cho rằng: Chia sẻ tri thức là một quá trình theo đó tri thức ẩn và hiện được truyền đạt cho các cá nhân khác.Ta có thể tham khảo các định nghĩa: 9 Bảng 1.1: Các định nghĩa về chia sẻ tri thức Tác giả/năm Định nghĩa chia sẻ tri thức (KS) Chia sẻ tri thức đề cập đến các tương tác liên quan đến cả tri Lee và cộng sự. (2011) thức rõ ràng và ngầm hiểu có liên quan đến nhiệm vụ được đề cập.
Chia sẻ tri thức đề cập đến một nền văn hóa tương tác xã hội Lin (2007) với sự trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm và tri thức giữa các nhân viên. Chia sẻ tri thức đề cập đến hành vi của các cá nhân trong một tổ Bock và cộng sự. (2005) chức trong việc chia sẻ tri thức giữa họ với nhau. Chia sẻ tri thức đề cập đến các quá trình tri thức của cả trao đổi Hooff và Ridder (2004) và sáng tạo.
Chia sẻ tri thức đề cập đến quá trình mà tri thức được chuyển Ipe (2003) đổi từ sở hữu của cá nhân thành cá nhân chấp nhận và tiếp thu kiến thức đó. Hành vi chia sẻ tri thức được định nghĩa là một hành động chủ Polinyi, (1969) quan có chủ ý làm cho kiến thức được người khác sử dụng lại thông qua việc chuyển giao kiến thức Hành vi chia sẻ tri thức cũng có thể được định nghĩa là hành Bartol và Srivastava, động trao đổi ý tưởng, kinh nghiệm thông qua các cuộc thảo (2002) luận để tạo ra kiến thức mới Nguồn: NCS tự tổng kết Bảng trên cho thấy các ý tưởng và định nghĩa khác nhau đã được nhà nghiên cứu đưa ra. Như vây trong quá trình chia sẻ tri thức, các cá nhân đóng vai trò là người tạo ra tri thức và người tiếp nhận tri thức. Theo cách tiếp cân của luận án, tri thức còn là một thói quen, chuyên môn, kỹ năng, kiến thức và hiểu biết có được từ kinh nghiệm, đào tạo hoặc thông qua một quá trình giảng dạy và làm việc.
Do đó luận án phát triển định nghĩa hành vi chia sẻ tri thức của Bartol và Srivastava, (2002) - Những người định nghĩa Chia sẻ tri thức như là hành động trao đổi. Định nghĩa mà luận án phát triển: Hành vi chia sẻ tri thức là hành động trao đổi thông tin hoặc hiểu biết, kinh nghiệm giữa các cá nhân, trong và ngoài tổ chức. Chia sẻ tri thức là một quá trình có chủ đích không chỉ củng cố sự hiểu biết của một cá nhân mà còn giúp tạo ra hoặc nâng cao kho lưu trữ tri thức có thể được học hỏi cho những người khác. Vai trò của chia sẻ tri thức trong quản trị tri thức 10 Hệ thống quản trị tri thức có thể được mô tả như một quy trình phức tạp đổi mới với sự đa dạng của tri thức, các luồng thông tin.
Quản trị tri thức làm cho các mối liên hệ trở nên tích cực hơn, giúp trao đổi tri thức và hợp tác của các thành viên trong tổ chức dễ dàng hơn, dẫn đến gia tăng vốn tri thức. Quản trị tri thức (Knowlede management) viết tắt là QTTT là một quá trình nhằm chia sẻ, thu nhận, lưu giữ, lựa chọn, sáng tạo tri thức và cung cấp đúng người, đúng nơi, đúng lúc nhằm nâng cao hiệu quả quyết định, hiệu quả thực thi và khả năng thích ứng của doanh nghiệp.Trong nhiều nghiên cứu, tri thức được nghiên cứu ở hai khía cạnh: tri thức với tư cách là một thông tin thực tế, và tri thức với tư cách là sản xuất, như một sản phẩm của việc bán và mua. Khía cạnh thứ nhất phân tích tri thức được áp dụng để giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề cũng như trong việc ra quyết định (Wiig, 1993). Đó là lý do tại sao để quản lý tri thức có nghĩa là phải hình thành chúng một cách có hệ thống, đổi mới và áp dụng chúng.
Quản lý tri thức có nghĩa là chính thức hóa tri thức, tiếp cận kinh nghiệm thực tế, dữ liệu chuyên gia, tạo ra các khả năng mới để kích thích sự đổi mới. Khía cạnh thứ hai tuyên bố rằng tri thức là thứ mà phần lớn các tổ chức sản xuất ra bán và mua (Prusak, 2001). Bằng cách giải quyết các nhiệm vụ khác nhau, cần phải phát triển tri thức và áp dụng nó một cách hiệu quả. Có thể kể một số mô hình quản trị tri thức tiêu biểu: Mô hình Von Krogh và Roos (1995); Mô hình đường xoắn ốc tri thức của Nonaka và Takeuchi (1995); Mô hình quản trị tri thức Choo (1998); Mô hình xây dựng và sử dụng tri thức Wiig (1993).
Tất cả các mô hình quản lý tri thức trên đây đều là những mô hình cơ bản của lý thuyết quản trị tri thức. Bhatt, (2002) đã chỉ ra tri thức chuyên môn ở cấp độ cá nhân khác với tri thức tổ chức, các tổ chức không thể bỏ qua việc khai thác tri thức cá nhân. Trong đó ông cũng nhấn mạnh chia sẻ tri thức là cầu nối để quy trình này diễn ra thuận lợi. Wiig (1993) tập trung vào ba điều kiện cần có để một tổ chức tiến hành hoạt động thành công: tổ chức đó phải có doanh nghiệp (sản phẩm / dịch vụ) và khách hàng; nó phải có nguồn lực (con người, vốn và cơ sở vật chất); và nó phải có khả năng hành động.
Chu trình của Wiig đề cập đến cách tri thức được xây dựng và sử dụng với tư cách cá nhân hoặc tổ chức. Có bốn bước chính trong chu trình này:1. Xây dựng tri thức. Nắm tri thức.
Tổng hợp tri thức. Vận dụng tri thức.Mặc dù các bước được thể hiện là độc lập và tuần tự, nhưng đây là một sự đơn giản hóa. Có thể thấy trong hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng:vai trò của chia sẻ tri thức là rất quan trọng. Quá trình này có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, phần tổng quan sau làm rõ điều này.
Chia sẻ tri thức là một trong những khối cốt lõi của quản lý tri thức. Cụ thể thay vì tự nghiên cứu và gia tăng tri thức, ngày nay nếu muốn quản trị tri thức thì cần liên kết với bên ngoài để nghiên cứu và gia tăng, đặc biệt kết nối với các trường đại học để triển khai nghiên cứu được xem là con đường ngắn nhất để tạo sinh tri thức cho tổ chức. Do đó trong các môi trường đại học, vai trò của chia sẻ tri thức là chìa khoá chính của quá trình quản trị tri thức. Hàn Quốc là quốc gia đi đầu trong mô hình này, và do đó họ có sự phát triển thần kỳ như ngày hôm nay.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến hành vi chia sẻ tri thức Bảng 1 - PL1: Tổng quan các nghiên cứu về cách tiếp cận và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức ở phụ lục cho thấy có rất nhiều phương thức tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu hành vi chia sẻ cá nhân. Hành vi chia sẻ là một quá trình trao đổi kiến thức, chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng và thông tin giữa gia đình, bạn bè, cộng đồng và tổ chức. Trong một tổ chức bao gồm những người có cùng mối quan tâm, nghề nghiệp hoặc mục tiêu. Họ chia sẻ và trao đổi kiến thức hàng ngày bằng cách tham gia vào tương tác xã hội (Feng 2016).
Ở khía cạnh trên mạng xã hội hay các nền tảng ảo (online) hành vi chia sẻ tri thức cũng rất được quan tâm như các nghiên cứu của (Usoro 2007; Fang & Chu, 2010; Majewski 2011, Lin 2009; Bock (2005)đã tìm thấy thái độ của cá nhân đối với ý định chia sẻ tri thức có sự ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Cụ thể cả cho ý định chia sẻ tri thức hiện và tri thức ẩn. J (2006) tìm thấy thái độ và niềm tin có ý nghĩa hơn trong quản trị tri thức ở thực tế. Các nghiên cứu cho thấy những mối quan hệ tích cực giữa hành vi chia sẻ tri thức và các biến khác nhau, trong công trình của Lin (2007): sự thừa nhận bản thân, niềm vui được giúp đỡ người khác và lợi ích tương hỗ được phát hiện có mối liên hệ đáng kể với việc chia sẻ tri thức.
Các nghiên cứu sâu hơn đã bao gồm ảnh hưởng của phần thưởng trong môi trường học tập ở Malaysia. Ví dụ, Chen, (2010) cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa kỳ vọng cá nhân và hệ thống khuyến khích với hành vi chia sẻ. Một nghiên cứu về 17 trường đại học công lập của Zawawi (2011) xác định rằng việc thiếu phần thưởng của tổ chức là trở ngại lớn nhất trong chia sẻ tri thức. Ta có thể tham khảo bảng tổng quan các nghiên cứu như bảng dưới đây Bảng 1.2: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến hành vi chia sẻ tri thức Nghiên Đại diện Biến độc lập Ý nghĩa/ điểm mới cứu Định Wah et al.
Mối quan hệ tích cực r = .69, p hướng Phần thưởng khuyến khích (2007) <.01 CSTT Thái độ Behnke -Bên ngoài (thăng chức, phân Không có mối quan hệ β = -.