phần mở đầu và phần kết luận, đề tài đƣợc viết theo bố cục gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về ảnh hƣởng của vận dụng KTQT đến thành quả doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu. Chƣơng 4: Bàn luận kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách.
8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ ĐẾN THÀNH QUẢ DOANH NGHIỆP Chƣơng này tổng hợp, phân tích cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu ở nƣớc ngoài và tại Việt Nam. Cụ thể, phần một trình bày các khái niệm nghiên cứu quan trọng nhƣ KTQT, thành quả doanh nghiệp và xu hƣớng phát triển trong vận dụng các kỹ thuật KTQT. Phần hai trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài và tại Việt Nam có liên quan đến ảnh hƣởng của vận dụng kỹ thuật KTQT đến các khía cạnh thành quả tài chính và phi tài chính. Qua đó, luận án rút ra nhận xét về những công trình nghiên cứu trƣớc và nhận diện khoảng trống nghiên cứu.
Khái niệm và sự phát triển của Kế toán quản trị 1. Khái niệm Kế toán quản trị Theo Scapens (1991), khái niệm về KTQT tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau và chƣa có một khái niệm thống nhất chung. Các quan điểm về KTQT rất đa dạng và phong phú, bao gồm các quan điểm từ phía những học giả nghiên cứu và từ phía các tổ chức nghề nghiệp. Về phía các học giả, KTQT đƣợc xem nhƣ một hệ thống thông tin kế toán đƣợc sử dụng để kiểm soát, lập kế hoạch và cung cấp những thông tin tài chính và phi tài chính cho ngƣời quản lý để đƣa ra quyết định chính xác hơn và nâng cao hiệu quả của các hoạt động (Drury, 2015).
Bên cạnh đó, KTQT còn đƣợc nhìn nhận dƣới lăng kính kỹ thuật quản lý liên quan đến nhiều loại kỹ thuật thu thập, xử lý thông tin (nhƣ lập dự toán, đo lƣờng hiệu quả), hệ thống (ví dụ, hệ thống hạch toán chi phí) và các kỹ thuật phân tích đƣợc sử dụng cho mục đích lập kế hoạch và kiểm soát (Armitage, 2016). Về phía các tổ chức nghề nghiệp, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC, 1998) nhìn nhận ―KTQT là các kỹ thuật và quy trình tập trung vào việc sử dụng có hiệu 9 quả những nguồn lực của tổ chức, hỗ trợ các nhà quản lý hoàn thành nhiệm vụ gia tăng giá trị cho các bên liên quan‖. Cách tiếp cận của IFAC tiến gần với nhu cầu của nhà quản lý nhấn mạnh tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lực và tạo ra giá trị. Hiệp hội kế toán quản trị Hoa Kỳ (IMA, 2008) xem ―KTQT là một công việc chuyên nghiệp liên quan đến việc tham gia vào quá trình ra quyết định, lập kế hoạch và quản lý thành quả, đồng thời cung cấp những báo cáo tài chính và kiểm soát nhằm hỗ trợ cho nhà quản lý trong việc xây dựng và thực hiện chiến lƣợc của doanh nghiệp‖.
Cách tiếp cận của IMA nhấn mạnh vào chức năng của KTQT trong việc hỗ trợ nhà quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Hiệp hội kế toán quản trị công chứng Anh quốc (CIMA, 2005) cho rằng ―KTQT là một quy trình hoạt động đan xen với quy trình quản lý doanh nghiệp liên quan đến việc tạo lập, trình bày, giải thích các thông tin có liên quan nhằm mục đích ra quyết định thiết lập các chính sách, hoạch định kế hoạch trong ngắn hạn và dài hạn, kiểm soát việc sử dụng nguồn lực hiệu quả, lập báo cáo tài chính và phi tài chính cho các nhóm đối tượng liên quan‖. Tại Việt Nam, chủ đề KTQT đã đƣợc quy định hƣớng dẫn áp dụng trong Thông tƣ số 53/2006/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành và cập nhật trong Luật Kế toán số 88/2015/QH13. Theo đó, KTQT đƣợc xem ―là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán‖.
Nhƣ vậy, công việc KTQT là do từng doanh nghiệp tự thực hiện nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. Tóm lại, KTQT có thể đƣợc xem là một hệ thống tích hợp các đặc điểm của cả hệ thống thông tin kế toán và hệ thống thông tin quản lý. Mục tiêu của KTQT là cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính hỗ trợ các nhà quản lý đƣa ra các quyết định kinh doanh chính xác. Hệ thống này gắn kết chặt chẽ việc ra quyết định với chiến lƣợc của doanh nghiệp, sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả và đảm bảo lợi ích của các bên liên quan trong doanh nghiệp.
Sự phát triển của Kế toán quản trị Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC, 1998) đã công bố một khuôn khổ giải thích cho sự phát triển KTQT ở Mỹ và các quốc gia Châu Âu. Khuôn khổ đã mô tả sự phát triển của KTQT thành bốn giai đoạn dựa trên mức độ phức tạp và mục đích của KTQT, cụ thể: Giai đoạn 1 (trƣớc năm 1950): Trọng tâm trong giai đoạn này là việc tính toán chi phí sản xuất sản phẩm và kiểm soát bằng cách sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính. Các kỹ thuật phân tích tài chính đƣợc sử dụng rộng rãi trong giai đoạn này. Giai đoạn 2 (1950-1965): Trọng tâm của giai đoạn này là lập kế hoạch và kiểm soát với đặc trƣng là những kỹ thuật hỗ trợ phân tích ra quyết định.
Các kỹ thuật KTQT phổ biến bao gồm chi phí định mức, phân tích quan hệ giữa chi phí, sản lƣợng, lợi nhuận (CVP), phân tích điểm hoà vốn, và kế toán trách nhiệm. Giai đoạn 3 (1965-1985): Trọng tâm giai đoạn này là giảm lãng phí bằng cách cắt giảm những hoạt động không tạo ra giá trị. Giai đoạn này, môi trƣờng kinh doanh nhiều biến động và doanh nghiệp yêu cầu những thông tin chi tiết cho việc ra quyết định. Vì vậy, các kỹ thuật tính giá dựa trên hoạt động (ABC) và quản trị dựa trên hoạt động (ABM) là những kỹ thuật điển hình trong giai đoạn này.
Giai đoạn 4 (từ những năm 1985 trở về sau): Giai đoạn này trọng tâm KTQT hƣớng đến việc tạo ra các giá trị và hỗ trợ xây dựng chiến lƣợc bằng cách sử các kỹ thuật phân tích khách hàng, đối thủ cạnh tranh, thị trƣờng và sự cải tiến của doanh nghiệp. Các kỹ thuật KTQT nhƣ sản xuất tinh gọn (JIT), thẻ điểm cân bằng (BSC) và KTQT chiến lƣợc đã đƣợc phát trong giai đoạn này. Nishimura (2003) đã mô tả sự phát triển của KTQT dành riêng cho các quốc gia châu Á dựa trên quan điểm từ quản lý dựa trên chi phí đến quản lý dựa trên lợi nhuận. Cụ thể, sự phát triển của KTQT vẫn trải qua bốn giai đoạn lần lƣợt là KTQT sơ khai, KTQT truyền thống, KTQT định lƣợng, và KTQT tích hợp.
Giai đoạn 1: đƣợc gọi là KTQT sơ khai hoặc là KTQT phi hệ thống. Trong giai đoạn này hoạt động kinh doanh đƣợc quản lý thông qua các chỉ số tài chính 11 hoặc phân tích so sánh để đáp ứng các yêu cầu quản lý và kiểm soát. Một số phƣơng pháp trong giai đoạn này nhƣ phân tích tỷ số tài chính, chi phí thực tế. Giai đoạn 2: đƣợc gọi là KTQT truyền thống, hoạt động kiểm soát chi phí là một đặc tính quan trọng trong giai đoạn này.
Các kỹ thuật KTQT truyền thống trong giai đoạn này mang tính chiến thuật để quản lý kinh doanh vì chúng tập trung chủ yếu vào việc nâng cao hiệu quả và cải thiện năng suất nhƣ dự toán, chi phí định mức, phân tích C-V-P, và kế toán trách nhiệm. Giai đoạn 3: đƣợc gọi là KTQT theo định lƣợng, mang đặc tính chiến thuật kết hợp với một phần tƣ duy chiến lƣợc. Giai đoạn này KTQT nhấn mạnh thông tin về môi trƣờng kinh doanh, ra quyết định và kiểm soát quá trình hoạch định lợi nhuận dựa trên việc áp dụng các công thức toán học. Một số kỹ thuật trong giai đoạn này nhƣ mô hình hàng tồn kho, phƣơng sai dự báo lợi nhuận và chi phí cơ hội.
Giai đoạn 4: đƣợc gọi là KTQT tích hợp mang đặc tính chiến lƣợc và phát triển sau những năm 1980. Thông tin KTQT tích hợp với hệ thống kiểm soát khác nhằm giúp quản lý chi phí chiến lƣợc, tối ƣu hóa các quyết định và quản lý kinh doanh toàn cầu. Các kỹ thuật KTQT phát triển trong giai đoạn này nhƣ chi phí mục tiêu, chi phí dựa trên hoạt động, phân tích vòng đời sản phẩm, thẻ điểm cân bằng. Kế toán quản trị truyền thống và kế toán quản trị đương đại 1.
Sự chuyển đổi trong vận dụng kỹ thuật kế toán quản trị Theo Alam và Hossainn (2021) việc vận dụng KTQT cần thích ứng với bối cảnh môi trƣờng toàn cầu và nền kinh tế số, vai trò của KTQT đang có xu hƣớng thay đổi từ tổ chức và kiểm soát sang hoạch định chiến lƣợc. Một số học giả cho rằng việc phát triển các kỹ thuật KTQT đƣơng đại là kết quả tất yếu bởi sự thúc đẩy của môi trƣờng kinh doanh, công nghệ, và nhu cầu quản lý nhằm giúp giải quyết những thách thức trong doanh nghiệp mà những kỹ thuật KTQT truyền thống không thể xử lý (Johnson và Kaplan, 1987; Kamal, 2015; Sarchah và cộng sự, 2019). Tuy nhiên, Bromwich và Bhimani (1989) nhận thấy việc phát triển những kỹ thuật mới trong KTQT có thể đƣợc tiến hành theo cách ―tiến hóa‖, nghĩa là vẫn dựa trên các kỹ thuật KTQT truyền thống trƣớc đó thay vì lựa chọn thay thế triệt để. 12 Tƣơng tự, Davila và Foster (2007) cho rằng các kỹ thuật KTQT đƣơng đại đóng vai trò bổ sung nhƣng không thể thay thế cho các kỹ thuật KTQT truyền thống.
Lapsley và Oldfield (1999) chỉ ra việc vận dụng KTQT truyền thống đƣợc coi là năng lực bắt buộc của các tổ chức để bắt đầu quá trình chuyển đổi. Từ những quan điểm trên, luận án cho rằng những kỹ thuật KTQT truyền thống nên đƣợc xem là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của những kỹ thuật KTQT đƣơng đại. Đồng thời, những kỹ thuật KTQT đƣơng đại là sự phát triển tiếp nối gắn liền với sự thay đổi của thời đại, nhƣng giữa hai hệ thống nên mang tính tƣơng hỗ hơn là sự thay thế lẫn nhau.