Đặt vấn đề Trong những năm qua nhằm đa dạng hóa cây trồng, người dân và các đơn vị trồng rừng tại tỉnh Long An đã đưa các loài cây mọc nhanh như Bạch đàn, Keo gây trồng trên diện tích bờ bao, bờ đê, vườn hộ, trên các diện tích không chịu ảnh hưởng của nước lũ. Kết quả cho thấy các loài cây này có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt. Theo thống kê của Chi cục Kiểm Lâm thì diện tích trồng cây phân tán của tinh năm 2019 là 145 triệu cây, trong đó 2 loài cây chủ yếu là loài Keo và Bạch đàn. Việc phát triển diện tích này đã góp cải thiện nguồn nguyên liệu cho các nhà máy và các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh.
Hiện nay, nhu cầu nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ rất lớn, mỗi năm cần khoảng 30 — 35 triệu m° gỗ nguyên liệu các loại nên việc phát triển rừng trồng sản xuất để cung cấp nguyên liêu trong nước đang được ngành lâm nghiệp ưu tiên, nhất là trồng rừng gỗ lớn (Tổng cục Lâm nghiệp, 2020). Đối với vùng ĐBSCL hiện có nhiều nhà máy chế biến gỗ với qui mô lớn được xây dựng như: Nhà máy sản xuất ván MDF (VECO) của tập đoàn SUMITOMO Nhật Bản với công suất 250.000 m? gỗ MDF/nam tại khu công nghiệp Phú An Thạnh, tỉnh Long An; nhà máy sản xuất viên nén năng lượng VINAGE đóng tại Bến Lức - Long An; nhà máy chế biến gỗ MDF — VGR Kiên Giang thuộc tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam với công suất thiết kế là 75.000 m3 gỗ MDF/năm đặt tại khu công nghiệp Thạnh Lộc, Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Trần Lê Huy và Tô Xuân Phúc, 2013). Do vậy, nhu cầu phát triển rừng trông nguyên liệu cho các nhà máy này là rât lớn và cân có các nghiên cứu các giải pháp khoa học và công nghệ dé nâng cao năng suất rừng trồng Tràm va các loài cây mọc nhanh khác như Keo và Bạch đàn trên vùng đất phèn. Mặc dù diện tích trồng rừng Bạch đàn, Keo ngày càng được mở rộng, tuy nhiên vẫn mang tính tự phát, chưa ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học về giống, kỹ thuật trồng, xác định chu kỳ khai thác chưa hợp lý phù hợp nên hiệu quả mang lại chưa cao.
Trồng rừng trên diện tích quy hoạch nông nghiệp, trồng trên các lập địa không phù hợp cũng ảnh hưởng lớn đến môi trường đất và nước. Xuất phát từ yêu cầu trên đề tài “Ảnh hưởng của giống, mật độ, tỉa cành đến sinh trưởng của rừng trồng Keo lai (Acacia hybrid) tại huyện Thạnh Hóa, tinh Long An” được đặt ra nhằm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc phát triển rừng trồng tại đây.2 Mục tiêu nghiên cứu Xác định được dòng Keo lai, mật độ trồng và kỹ thuật tỉa cành rừng trồng Keo lai phù hợp trồng trên bờ kênh tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.3 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại giống Keo lai được trồng trên bờ kênh tại huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An trồng vào tháng 6 năm 2021.2 Giới hạn nghiên cứu Đề tài “Ảnh hưởng của giống, mật độ, tia cành đến sinh trưởng của rừng trồng Keo lai (Acacia hybrid) tại huyện Thanh Hóa, tỉnh Long An” kế thừa thiết kế thí nghiệm va số liệu của dé tài nghiên cứu nghiên cứu khoa học cấp tinh“Xay dựng mô hình kinh doanh rừng trồng Keo, Bach đàn ứng dụng tiễn bộ về giống, lâm sinh hiệu quả kinh tế cao tại Long An” (Đề tài cấp tỉnh) do TS. Phùng Văn Khang làm chủ nhiệm, Viện Khoa học lâm nghiệp Nam Bộ là cơ quan thực hiện. Đề tài cấp tỉnh được thực hiện từ tháng 10/2021 đến tháng 3/2024.
Trong quá trình thực hiện đề tài cấp tỉnh trên, tác giả có tham gia trong việc bố trí thí nghiệm thu thập số liệu và được chủ nhiệm, cơ quan thực hiện đề tài đồng ý cho sử dụng các số liệu đề thực hiện báo cáo khóa luận sinh viên. Trong khuôn khổ của một báo cáo khóa luận sinh viên, đề tài tiến hành thu thập sé liệu, xử lý và viết báo cáo khóa luận từ thang 04/2023 đến tháng 08/2023.4 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Về khoa học Kết quả của đề tài cung cấp một số cơ sở khoa học và thông tin về chọn giống và kỹ thuật trồng rừng Keo lai tại Thạnh Hóa — Long An và các khu vực có các điều kiện tương tự.2 Về thực tiễn Kết quả của đề tài là căn cứ đề xuất chọn các giống và kỹ thuật trồng rừng Keo lai cho sinh trưởng nhanh tại Thạnh Hóa - Long An và các khu vực có các điều kiện tương tự. Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Trên thế giới Các loài cây thuộc chi Keo (Acacia) là những nhóm loài cây trồng rừng chính ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới với tông diện tích rừng trồng của hai chi này đến năm 2010 là khoảng 23 triệu ha chiếm khoảng 10% tổng điện tích rừng trồng trên thế giới. Các loài cây này là nguồn cung cấp nguyên liệu giấy, ván nhân tạo và gỗ xẻ ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Các chi Keo có số lượng loài rất lớn, đa dạng về vùng phân bố do đó có phạm vi thích ứng rộng lớn cho nhiều vùng khí hậu khác nhau từ khí hậu nhiệt đới 4m cho đến cận nhiệt đới và ôn đới và thích hợp trên nhiều dạng đất đai khác nhau.1 Nghiên cứu về chọn giống Keo Từ năm 1989, ở Nam Phi đã có những nghiên cứu về sinh trưởng của dòng vô tính. Kết quả cho thấy rừng trồng bằng cây con từ hạt năng suất bình quân đạt 21,9 mẺha 'năm'!, trong khi đó các dòng vô tính trồng đại trà đạt trên 30 m°ha'!năm'! (trích theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001). Keo được đưa vào khảo nghiệm và gây trồng ở Philipin từ những năm 1980 với diện tích khoảng 4000 ha gây trồng các loài Keo, trong đó Keo tai tượng được đánh giá là rất có triển vọng, năng suất của rừng trồng 10 tuôi đạt tới 32 m°ha 'năm' !. Đối với Keo lá tram 30 tháng tuổi qua khảo nghiệm xuất xứ đã xác định được nguồn hạt từ vườn giống Bensbach và Holroyd là có triển vọng (trích theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006).
Tại Indonesia, nghiên cứu phát triển gây trồng các loài Keo được thực hiện theo dự án trồng rừng của công ty MHP với tong diện tích 193.500ha, trong đó diện tích trồng Keo tai tượng chiếm 90%. Năm 1990, công ty đã thiết lập được khu rừng 4 giống 17ha bằng hạt của 79 cây trội; trong hai năm 1991 - 1992 đã trồng 92,9ha rừng giống gồm nhiều xuất xứ. Từ năm 1993 — 1997, công ty đã xây dựng được 35,6ha vườn giống thế hệ 1. Sau đó, công ty đã trồng được 42,Sha vườn giống thế hệ 2 từ năm 2000 — 2005.
Công ty cũng đã thiết lập 2ha vườn giống sản xuất hạt lai cho Keo tai tượng và Keo lá tràm năm 1996, với 139 gia đình từ PNG và Queensland của Keo lá tràm đã được khảo nghiệm hậu thế. Hạt sẽ được thu hái và chọn cây lai tại vườn ươm. Đây là hướng chọn giống lai tự nhiên đơn giản và dễ thực hiện (trích theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006). Tại Malaysia, các nghiên cứu và phát triển mở rộng rừng trồng mạnh nhất so với các nước trong vùng Đông Nam Á.
Tại đây, cây Keo lá tràm được dẫn giống trồng thử nghiệm từ những năm 1930, đến những năm 1970 thì Keo lá tràm đã trở thành loài cây trồng rừng kinh tế chính, hàng loạt các khảo nghiệm xuất xứ trên 4 địa điểm có điều kiện lập địa khác nhau về độ âm dat, độ sâu tầng đất, lượng mùn và cỏ đại. Theo kết quả tại Sabah, sau 10 - 13 năm chiều cao cây đạt 20 — 25 m và đường kính 20 - 30cm, tăng trưởng bình quân ở đây là 44 m°ha 'năm'!, đồng thời kết luận sinh trưởng của Keo lá tràm tốt hơn các xuất xứ địa phương. Tính đến cuối năm 1990, diện tích rừng trồng Keo lá tràm ở Sabah vào khoảng 14. Tại Thái Lan, năm 1985 khảo nghiệm giống đã được tiến hành cho 12 loài từ 23 lô hạt trên 6 địa điểm khảo nghiệm đã thu được kết quả sau 3 năm tuổi sinh trưởng giữa các loài và xuất xứ khác nhau là sai khác có ý nghĩa, trong đó các loài Keo lá tràm, Keo lá liềm và Keo đa thân có xuất xứ từ Papua New Guinea được đánh giá là tốt ở tất cả các lập địa.
Keo lá tràm xuất xứ tốt nhất là Balamuk (PNG) đạt chiều cao nơi có lập địa tốt nhất là 12,3m và đường kính là 12cm, đồng thời Keo lá tram cho tỷ lệ sống cao nhất, kế đến là Keo đa thân và Keo lá liềm. Tác giả cũng chỉ ra rằng khi sử dụng các loài Keo để trồng rừng thì việc xác định điều kiện lập địa, loài và xuất xứ thích hợp dé đảm bảo sinh trưởng va sản lượng là công tác không thé thiếu, nếu sử dụng các loài, xuất xứ không thích hợp với điều kiện của lập địa thì hậu quả sức sinh trưởng và sản lượng kém là không thể tránh khỏi và phải chịu ton that không nhỏ (Chitachumnonk, P. Khảo nghiệm hậu thế các gia đình cây trội Keo lá tràm được chọn lọc từ nơi nguyên sản và từ các lâm phần địa phương tại Thái Lan năm 1989 đã cho thấy có sự sai khác rất lớn về sinh trưởng giữa các xuất xứ cũng như giữa các gia đình trong cùng xuất xứ. Các gia đình được chọn lọc trong các rừng sản xuất có sinh trưởng kém đã bị chặt bỏ khi khảo nghiệm này được chuyển hoá thành vườn giống.
Sự sinh trưởng kém của các gia đình địa phương đã được lý giải là do nền tảng di truyền hẹp, tình trạng giao phấn cận huyết và chọn lọc âm tính (các cá thể có sinh trưởng kém được chọn dé thu hái hạt giống cho sản xuất đại trà) đã diễn ra qua nhiều thế hệ (Nor Aini ABD. Tai Lao, khảo nghiệm phối hợp loài và xuất xứ cho các loài Keo Acacia được tiến hành năm 1998 thông qua sự đầu tư của tô chức Phát Triển Quốc Tế Thụy Điền (SIDA) với 14 xuất xứ thuộc 8 loài kết quả cho thấy Keo tai tượng xuất xứ Oriomo (PNG) sinh trưởng tốt nhất, cây Keo lá tràm xếp thứ ba về sinh trưởng ở xuất xứ tốt nhất Archer River thuộc nước Úc, bên cạnh ưu điểm sinh trưởng nhanh thì 2 xuất xứ nay đạt tỷ lệ sống trên 80% (Turnbull, 1998). Tại Trung Quốc, từ những năm 1960 các loài Keo đã được đưa vào gây trồng, tới năm 1997 đã có khoảng 200.