MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay các nước phát triển đã chuyển trọng tâm y tế từ chăm sóc trẻ em sang theo hướng chăm sóc người có tuổi và người cao tuổi. Tại các nước phát triển, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch chiếm 1/3 trong tổng số các ca tử vong. Riêng ở Hoa Kỳ, tỷ lệ này còn chiếm tới 35%, như vậy, cứ 100 ca tử vọng ở Hoa Kỳ thì có tới 35 người chết do bệnh tim mạch.
Tim quyết định sự sống còn của cơ thể, mạch vành quyết định sự sống còn của tim. Bởi vậy, những hẹp, tắc, co thắt mạch vành là hết sức nguy hiểm, hơn nữa đây lại là loại bệnh phổ biến. Từ lâu nay trong dân gian, nhất là trong cộng đồng người thiểu số, đã biết sử dụng các cây thuốc nam để chữa bệnh tim mạch, mà đặc biệt là cây Dong riềng đỏ. Đồng bào thiểu số thường dùng củ cây dong riềng đỏ để chữa các cơn đau thắt ngực, suy tim, suy mạch vành.
Cây dong riềng (Canna edulis Ker) cây thân thảo, họ dong riềng (Cannaceae) có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Trên thế giới dong riềng có khá nhiều giá trị sử dụng như tinh bột cung cấp dinh dưỡng cho con người, thân lá làm thức ăn gia súc, phần non có thể làm rau ăn, hạt non được dùng làm nhân bánh, hạt già có thể làm đồ trang sức, (Pulmass, 1985). Cây dong riềng được trồng ở nước ta vào đầu thế kỷ 19. Dong riềng là cây sinh trưởng phát triển mạnh, có khả năng thích ứng rộng trồng được trên nhiều loại đất kể cả các vùng đất nghèo dinh dưỡng, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận đặc biệt là chịu hạn, năng suất củ tươi có thể đạt từ 45 - 60 tấn/ha, hàm lượng tinh bột từ 13,36 - 16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và Cs, 2010) [6].
Do có hàm lượng tinh bột cao nên củ dong riềng thường được dùng để chế biến tinh bột, chăn nuôi gia súc đặc biệt là n 2 được sử dụng để làm miến dong, bánh đa, bánh mì, bánh bao, kẹo… Ngoài ra thân lá dong riềng còn dùng cho chăn nuôi gia súc nên góp phần tận dụng chăn nuôi phát triển. Theo đánh giá của người dân dong riềng dễ trồng, ít tốn công chăm sóc nên trồng dong riềng có hiệu quả kinh tế cao. Một ha trồng dong riềng cho doanh thu 80 - 100 triệu, trừ chi phí đi khoảng 20 - 25 triệu, người dân có thể lãi trung bình khoảng 60 - 80 triệu đồng/ha (thu từ củ). Trồng dong riềng trên diện tích lớn hoặc chế biến thành tinh bột có thể lãi nhiều hơn.
Cây dong riềng đỏ dễ trồng và thích hợp với điều kiện khí hậu ở vùng miền núi phía Bắc hiện nay. Tuy nhiên, do chưa hiểu hết ý nghĩa của nó nên chưa được phát triển. Mặt khác, do số loài có giá trị dược liệu rất ít nên đa phần các loại dong riềng đỏ được trồng hiện nay chủ yếu để làm nguyên liệu cho chế biến thực phẩm hoặc để chăn nuôi. Vì vậy, việc chọn lọc và phát triển các loài dong riềng đỏ tại địa phương để làm dược liệu là rất cần thiết hiện nay.
Cây dong riềng là cây có giá trị kinh tế cao, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau mà vẫn cho năng suất cao, do đó cây dong riềng được đồng bào nhiều cùng quan tâm phát triển, nhất là ở miền núi và được xem như một loại cây chiến lược cho sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, năng suất của dong riềng ở nước ta còn thấp, do thực hiện một số biện pháp kỹ thuật thâm canh chưa cao và chưa đồng bộ như chưa trồng đúng thời vụ cũng như mật độ khoảng cách không hợp lý. Để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất dong riềng, việc nghiên cứu chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ mới như: Giống, các biện pháp kỹ thuật canh tác (mật độ trồng, thời vụ) vào sản xuất dong riềng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng dong riềng, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân là vấn đề cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây dong riềng đỏ trồng bằng hạt tại Thái Nguyên”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Xác định được mật độ trồng thích hợp cho cây dong riềng đỏ để cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên 1. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống dong riềng đỏ trồng bằng hạt tại Thái Nguyên. - Đánh giá tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống dong riềng đỏ trồng bằng hạt tại Thái Nguyên.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống dong riềng đỏ trồng bằng hạt tại Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Đối với học tập: Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố kiến thức đồng thời biết vận dụng những kiến thức đã học được vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích lũy kinh nghiệm trong sản xuất, tạo lòng yêu nghề nghiệp cho sinh viên + Đối với nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, nắm được các bước để tiến hành nghiên cứu một đề tài khoa học, phương pháp thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học. Nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, nghiêm túc, sáng tạo đúc rút được những kinh nghiệm thực tế. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Là cơ sở khuyến cáo kỹ thuật cho nhân dân lựa chọn mật độ trồng phù hợp cho năng suất cao, chất lượng tốt nhất để đưa vào áp dụng sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nói chung.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất dong riềng. Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể nhằm khai thác tốt nhất khoảng không gian và mặt đất nhằm thu được sản lượng cao nhất trên 1 đơn vị diện tích.
Mỗi một loại cây trồng yêu cầu một mật độ trồng nhất định. Mật độ trồng thích hợp sẽ giúp cho cây sử dụng tối đa các điều kiện của đồng ruộng giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích lũy của cây tăng từ đó tăng năng suất và chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế. Khi trồng ở mật độ càng cao mức độ cạnh tranh diễn ra càng quyết. Khi đất không cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng cây sẽ phát triển kém, củ sẽ nhỏ.
Trong khoảng không gian hẹp, để có thể lấy được ánh sáng cây phải phát triển chiều cao cây tối đa vì vậy sẽ làm cho cây yếu, khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh kém. Trồng ở mật độ thấp cây không phải cạnh tranh dinh dưỡng nên sinh trưởng phát triển tốt, cho củ to nhưng năng suất quần thể giảm. Vì vậy việc nghiên cứu để xác định mật độ trồng phù hợp góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật và mức đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất. Cơ sở thực tiễn Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, diện tích đất bỏ hoang còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở n 5 những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số loại cây có giá trị kinh tế thấp.
Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 2. Nguồn gốc Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ. Được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩn là chính (Mai Thạch Hoành và cs, 2011) [3]. Hiện nay, người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington và Janaki, 1945) đó là: - Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới, - C.
Flauca ở Tây Ấn và Mêhico, - C. flaccida ở Nam Mỹ, - C. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới, - C. Indica ở châu Mỹ nhiệt đới, - C.humilis ở Trung Quốc.
Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng nhiều ở các nước châu Á, châu Phi, châu Úc. Phân loại - Tên khoa học: Canna edulis Ker - Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannaceae - Bộ: Scitaminales Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội 2n = 2X = 27 n 6 2. Phân bố và các giống dong riềng Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng Nam Mỹ, châu Phi, và một số nước Nam Thái Bình Dương.
Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann và Cs, 2007) [18]. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng Thân:Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ. Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2 m đến 1,5 m có những giống có thể cao trên 2,5 m. Thân cây màu đỏ.
Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ. Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ và trong cùng là nhu mô. Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể đạt chiều dài 60 cm.