CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN LIÊN QUAN DEN DE TAI LUAN VAN 1. Một số khái niệm 1. Văn hóa Đã có nhiều định nghĩa về văn hóa. Các tác giả khác nhau thường hiểu khái niệm văn hóa theo những nội dung khác nhau tùy theo hướng tiếp cận của từng người, từng ngành khoa học.
Sau đây là một số định nghĩa về văn hóa: - “Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm do con người sáng tạo ra, hữu hình và vô hình, trong quá trình con người phải chính phục thiên nhiên, cải tạo xã hội và hoàn thiện ban thân minh. Tat cả những gì thuộc thế giới thứ hai, do con người sáng tạo ra mà không phải do thiên nhiên tự có, đều thuộc phạm vi văn hóa” (Đình Quang, 1999, tr. 64) Từ phương diện giá tri, Trần Ngọc Thêm nhắn mạnh: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 1998, tr. 10-13) Nguyễn Đức Binh trong bài viết “May van đề lớn trong Nghị quyết Hội nghị Trung Ương V về văn hóa”, đã nêu ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản suất tỉnh thần” (Nguyễn Đức Bình, 1998, tr.
Văn hóa tỉnh thân Khi nghiên cứu về văn hóa, các nhà khoa học thường chia, văn hóa thành ba lĩnh vực: - Văn hóa vật chat (material culture) Văn hóa vật chất là tổng hòa tất cả sản phẩm vật chất, hữu hình do lao động sáng tạo của con người tạo nên trong một xã hội nhất định. Có thé lay ví 13 dụ như: nhà ở, trang phục, cơ sở tôn giáo, công cụ sản xuất, phương tiện di chuyén. - Van héa tinh than (spiritual culture) Văn hóa tinh than hội tu những khía cạnh thuộc về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán (liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội.), các loại hình sân khấu, văn học dân gian, nghệ thuật, lễ hội. - Văn hóa xã hội (social culture) Văn hóa xã hội bao gồm những ứng xử trong gia đình, cộng đồng, xã hội, các quy tác về xã hội, hôn lễ, tang lễ, hội đoàn, tổ chức hôn nhân gia đình, các thiết chế văn hóa, xã hội, đời sống pháp luật, tổ chức chính trị.
- Tuy nhiên, có khi người ta chỉ chia văn hóa thành hai lĩnh vực: văn hóa vật chat và văn hóa tinh than (trong đó văn hóa tinh than bao gồm cả văn hóa xã hội). Sự phân chia nêu trên cũng chỉ có ý nghĩa tương đối (Đại học Quốc gia thành phó Hồ Chí Minh, 2008, tr. 103) *Bên cạnh cách phân loại văn hóa trên, E. Markarian trong lý thuyết của mình đã chia văn hóa thành hai loại sau: - Văn hóa sản xuất ban đầu và văn hóa bảo đảm đời sống (tương ứng với văn hóa vật chất): + Văn hóa sản xuất ban đầu là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của con người ở trạng thái ban đầu, nhưng những sản phẩm bước đầu chưa thê đảm bảo cho cuộc sống của con người tạo ra chúng, mà chúng cần được tiếp tục biến chuyển từ văn hóa sản xuất ban đầu thành văn hóa đảm bảo đời sống thi mới có thé đảm bảo cơ bản đời sống con người.
Ví dụ, sản xuất ra bột my chỉ thuộc văn hóa sản xuất ban đầu, còn dùng bột mỳ dé làm ra bánh mỳ và các món ăn khác mới chính là văn hóa đảm bảo đời sống. - Văn hóa định chuẩn xã hội và văn hóa nhân văn (tương ứng với văn hóa tinh thân và văn hóa xã hội): 14 Văn hóa định chuẩn xã hội và văn hóa nhân văn bao gồm tôn giáo, tín ngưỡng, tri thức dân gian, kinh nghiệm sản xuất, phong tục liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội, gia đình; nghệ thuật, mỹ học. Markarian, 1983) Tổ chức UNESCO chia văn hóa thành hai loại chính: - Văn hóa vật thé gồm những yếu tố vật chất trong hiện vật văn hóa như: đình, chùa, miếu, nhà cửa, trang phục, 4m thuc. - Văn hóa phi vat thé gồm những yếu tố tinh than trong văn hóa như: âm nhac, múa, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi lễ, bí quyết của nghệ nhân trong chế tác nghề thủ công (Trần Quốc Vượng, Cb, 2000, tr.
Như vậy, từ các định nghĩa nêu trên cho thấy, nội hàm của văn hóa tinh thần rất rộng, bao gom nhiều lĩnh vực cụ thé như: tôn giáo, tín ngưỡng, đạo đức, tư tưởng, phong tục tập quán, các loại hình sân khấu, văn học dân gian, nghệ thuật, lễ hội, tri thức dân gian, kinh nghiệm sản xuất. Đời sống văn hóa tỉnh thần - PGS. Trần Đức Ngôn, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đã đưa ra và phân biệt hai khái niệm: (1) Đời sống tinh thần và (2) Đời sống văn hóa tinh thần như sau: Theo ông, hai khái niệm trên rất gần nhau,tuy nhiên, chúng không phải là đồng nhất. Khái niệm “doi sống tinh than” rộng hơn khái niệm “đời sống văn hóa tinh thân”.
Đời sông tinh thần là toàn bộ những biéu hiện tâm lý của con người, khang định con người là một thực thé sống trong những mối tương quan xã hội nhất định. Toàn bộ nhận thức, tư tưởng, tình cảm là đời song tinh thần nhưng không phải tat cả trong đó đều là đời sống văn hóa tinh thần. Chỉ khi nào những nhận thức, tư tưởng và tình cảm này hướng tới các giá trị và chuẩn mực thì khi đó chúng mới trở thành đời sống văn hóa tinh thần. Việc hướng tới các giá trị và chuân mực thường chiếm vị trí quan trọng, cốt lõi trong đời sống tinh thần của con người (Trần Đức Ngôn, 2017, tr.
7-8) 15 Trong cuộc sống hàng ngày, đời sống văn hóa tinh than là hoạt động của con người trên lĩnh vực tinh thần - hoạt động sản xuất, trao đối và tiêu dùng những giá trị tỉnh thần diễn ra trên các lĩnh vực chủ yếu như tư tưởng, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, tín ngưỡng tôn giáo. Khái quát giáo lý Nhân Quả 1. Khái niệm nhân quả theo quan niệm khoa học Theo quan niệm của triết học Mác-Lênin: “nguyên nhân là phạm tra dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nao đó. Kết quả là một phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra”.
(Tô Thị Phương Dung, 2023) Mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ khách quan của bản thân các sự vật. Nó tồn tại ngoài ý muốn của con người, không phụ thuộc vào việc ta có nhận thức được nó hay không. Vì mối quan hệ nhân quả là vốn có trong bản thân sự vật nên không thể đồng nhất nó với khả năng tiên đoán. Một nguyên nhân nhất định trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra một kết quả nhất định.
Đó là tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trong những điều kiện nhất định. Nếu những sự vật, hiện tượng về cơ bản là giống nhau, tác động trong những hoàn cảnh tương đối giống nhau thì sẽ gây nên những kết quả giống nhau về cơ bản. Nếu các nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì các kết quả do chúng gây nên càng ít khác nhau bấy nhiêu. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều được gây ra bởi những nguyên nhân nhất định.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên nhân và kết quả có môi quan hệ qua lại như sau: 16 Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả. Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động. Tuy nhiên, không phải sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng cũng đều biểu hiện mối liên hệ nhân quả. Nếu nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướng thì sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều, đây nhanh sự hình thành kết quả.
Ngược lại, nêu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì sẽ làm suy yếu, thậm chí triệt tiêu các tác dụng của nhau. Cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Ngược lại, cùng một kết quả có thé được gây nên bởi những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hoặc cùng một lúc. Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, có thể phân loại nguyên nhân thành: + Nguyên nhân chủ yêu và nguyên nhân thứ yếu.
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài. + Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định. Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí cho nhau.
Chuỗi nhân quả là vô cùng, không có bắt đầu và không có kết thúc. Một hiện tượng nào đấy được coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở trong một quan hệ xác định cụ thé. Giáo lý Nhân Quả theo quan niém của Phật giáo Theo quan niệm cua Phật giáo, khái nệm Nhân Quả được hiểu như sau: “Nhân Quả theo tiếng Phạn: Hetu- phala, nguyên nhân và kết quả, cũng chỉ cho luật Nhân Quả. Trong hệ thống giáo nghĩa của Phật giáo, đây là luận cứ cơ bản để thuyết minh tất cả mối liên hệ trong thế giới.
Trong sự hình 17 thành của tất cả các pháp thì nhân là năng sanh, còn quả là sở sanh. Tức pháp nào có khả năng sanh ra kết quả là nhân, còn pháp nào từ nhân sanh ra là quả.” (Thích Minh Cảnh, 2004, tr. Hay nói cách khác, nhân là mam, là hạt qua là trái, nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành cua năng lực ấy. Trong thế giới tương quan, tương duyên của sự vật, hiện tượng, mỗi hiện hữu điều có nguyên nhân của nó.